ÁNH SÁNG MỚI 2015 ONLINE 

TIN TỨC THỜI SỰ CHÍNH TRỊ - TÀI LIỆU TỔNG HỢP  14

www.anhsangmoi2015.com

www.anhsangmoi2015.org  

----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------   

 

 

Lời Di Chúc Của Vua Trần Nhân Tông

"Các người chớ quên, chính nước lớn mới làm những điều bậy bạ, trái đạo.
V́ rằng họ cho ḿnh cái quyền nói một đường làm một nẻo.
Cho nên cái hoạ lâu đời của ta là hoạ nước Tàu.
Chớ coi thường chuyện vụn vặt nảy ra trên biên ải.
Các việc trên, khiến ta nghĩ tới chuyện khác lớn hơn.
Tức là họ không tôn trọng biên giới qui ước.
Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp.
Không thôn tính được ta, th́ gậm nhấm ta.
Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta
từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích.
Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn :

"Một tấc đất của Tiền nhân để lại,
cũng không được để lọt vào tay kẻ khác".
Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu
".

-----------------------------------------------------------------------------------------------------

 

NGÀN NĂM GƯƠNGCŨ

Trần Gia Phụng

1.-   RỒNG BAY CÁCH ĐÂY MỘT NGÀN NĂM

Sau khi đảo chánh, lật đổ nhà Tiền Lê vào cuối năm 1009 (kỷ dậu), Lư Công Uẩn lên ngôi vua năm 1010 (canh tuất), lấy niên hiệu là Lư Thái Tổ (trị v́ 1010-1028), lập ra nhà Lư (1010-1225).  Việc đầu tiên của Lư Thái Tổ là quyết định dời đô từ Hoa Lư (Ninh B́nh) ra thành Đại La, và đổi tên là Thăng Long vào tháng 7 năm canh dần.

 

Việc dời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La được Lư Thái Tổ giải thích như sau: “Ngày xưa, nhà Thương [Trung Hoa, 1783-1123 TCN] đến đời Bàn Canh [vua Thương thứ 17, 1401-1374 TCN] năm lần dời đô, nhà Châu [Trung Hoa, 1134-256 TCN] đến đời Thành Vương [vua Châu thứ 3, 1115-1079] ba lần dời đô, há phải các vua thời Tam đại ấy theo ư riêng tự dời đô xằng bậy đâu?  Làm như thế cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con cháu muôn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ư dân, nếu có chỗ tiện th́ dời đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh.  Thế mà hai nhà Đinh Lê lại theo ư riêng, coi thường mệnh trời, không noi theo việc cũ của Thương Chu, cứ chịu yên đóng đô nơi đây, đến nỗi thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ tổn hao, muôn vật không hợp.  Trẫm rất đau đớn, không thể không dời.  Huống chi thành Đại La, đô cũ của Cao Vương [Cao Biền], ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước.  Vùng nầy mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh.  Xem khắp nước Việt, đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư măi muôn đời.  Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà định nơi ở...”( Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử kư toàn thư [chữ Nho], Hà Nội: bản dịch tập 1, Nxb. Khoa học Xă hội, 1998, tr. 241.)

Nói như thế, nhưng quyết định dời đô của Lư Thái Tổ bắt nguồn từ nguyên nhân sâu xa hơn là chiếu chỉ đă viết.  Vùng Hoa Lư là địa bàn sinh hoạt của đại gia tộc nhà Tiền Lê.  Lư Thái Tổ lật đổ nhà Tiền Lê và cướp chính quyền.  Cuộc đảo chánh bề ngoài xem ra êm ái, ít được sử sách ghi lại chi tiết.  Có thể v́ “lịch sử thuộc về kẻ chiến thắng”, vua quan nhà Lư không muốn nhắc đến việc nầy, nên đời sau không biết mà ghi lại.  Tuy nhiên một đại gia tộc như nhà Tiền Lê, với khoảng 10 hoàng tử đă từng tranh quyền với nhau, hoàn toàn bị tiêu diệt, ắt hẳn phải xảy ra một cuộc tranh chấp rất gay gắt.  Có thể Lư Thái Tổ lo ngại thế lực c̣n lại của nhà Tiền Lê, hoặc dư âm của cuộc đảo chánh, không muốn ở lại địa bàn c̣n nhiều ảnh hưởng của triều đại trước. 

Thứ đến, thành Đại La nằm gần Bắc Ninh, nơi xuất phát của Lư Thái Tổ và quân sư của ông là thiền sư Vạn Hạnh.  Bắc Ninh là chiếc nôi của Phật giáo nước ta, nơi từ đầu Công nguyên có thành Luy Lâu (cách Hà Nội ngày nay 20km), được xem là trung tâm Phật giáo đầu tiên của nước Việt, cũng là nơi có chùa Pháp Vân (chùa Dâu) được thành lập từ thế kỷ thứ 6.  Các thiền sư Phật giáo là những người hậu thuẫn mạnh mẽ cho Lư Thái Tổ.  Do những lẽ đó, Lư Thái Tổ mới quyết định dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long,

Thành Đại La (Thăng Long) được ưu điểm hơn thành Hoa Lư ở vị trí trung tâm nước ta lúc đó, nằm trên sông Hồng, dễ giao thông liên lạc, nhưng về địa lư chính trị, trong thế đối kháng với Trung Quốc thời bấy giờ, th́ thành Đại La không lợi thế bằng thành Hoa Lư. 

Hoa Lư ở xa biên giới Trung Quốc hơn Đại La, đường sá lúc bấy giờ đi lại khó khăn, nên người Trung Quốc khó tấn công hơn.  Có thể chính v́ Đại La gần Trung Quốc, dễ giao thông liên lạc với Trung Quốc, nên nhà cầm quyền Trung Quốc chọn Đại La làm thủ phủ của Giao Châu (cổ Việt) do họ đô hộ.  Cũng có thể chính v́ thế, mà nhà Đinh, và nhà Tiền Lê bỏ Cổ Loa (Đông Anh, Phúc Yên), kinh đô của Ngô Quyền, gần Đại La và gần Trung Quốc, mà chọn Hoa Lư ở Ninh B́nh làm thủ đô, xa biên giới Trung Quốc hơn, nhằm tránh áp lực tấn công của Trung Quốc. 

Để thu hút quần chúng, lúc đó c̣n nhiều mê tín dị đoan, Lư Thái Tổ tạo ra huyền thoại rằng khi nhà vua đi thuyền đến Đại La, có rồng xuất hiện trên bầu trời báo điềm lành, nên nhà vua cho đổi tên Đại La thành Thăng Long (rồng bay).  Đến năm 1014 (giáp dần) Lư Thái Tổ cho xây thành Thăng Long bằng đất, ngay trên vị trí của thành Đại La cũ.

 

2.-   KINH NGHIỆM NGÀN NĂM

Kể từ khi Lư Thái Tổ chọn Đại La làm kinh đô và đổi tên thành Thăng Long, tính cho đến ngày nay (2010), thành Thăng Long được một ngàn năm chẳn. V́ vậy, năm nay, nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam (CSVN) quyết định tổ chức lễ kỷ niệm ngàn năm Thăng Long. 

Thông thường, kỷ niệm một người hay một sự kiện ǵ, là để tưởng nhớ công ơn người xưa hay hay những bài học từ chuyện xưa tích cũ, để từ đó rút ra những kinh nghiệm ứng dụng vào việc ứng xử ngày nay.  Riêng thành Thăng Long, trong một ngàn năm qua, Thăng Long đă chia sẻ đời sống với dân tộc Việt, thăng trầm theo sự thăng trầm của lịch sử Việt, và đă để lại những kinh nghiệm thật là quư báu.

Kinh nghiệm đầu tiên, dầu Thăng Long là kinh đô, được nhà cầm quyền Việt pḥng thủ chặt chẽ, nhưng cũng đă bị ngoại bang tấn công và chiếm đóng nhiều lần.  Đó là các nước Trung Quốc, Chiêm Thành và Pháp.  Trong các nước nầy, nước tấn công và chiếm đóng Thăng Long nhiều lần nhất là Trung Quốc

Kinh nghiệm thứ hai là bất cứ nhà cầm quyền Trung Quốc nào cũng đều muốn tiến quân chiếm nước Việt, vừa để mở rộng biên giới, vừa để t́m đường xuống Đông Nam Á.  V́ vậy, bất cứ nhà cầm quyền Trung Quốc nào cũng lợi dụng cơ hội nước Việt suy yếu, tranh chấp nội bộ, hay xảy ra thay đổi triều đại, Trung Quốc liền chụp lấy thời cơ, đem quân sang tấn công nước ta.

Kinh nghiệm thứ ba là những cuộc xâm lăng bằng bạo lực vũ bảo, th́ theo Đức Trần Hưng Đạo dễ chống đỡ hơn những cuộc xâm lăng theo kiểu tằm ăn dâu.  Trước khi Đức Trần Hưng Đạo từ trần năm 1300, vua Trần Anh Tông (trị v́ 1293-1314) đến thăm và hỏi ư kiến phải làm sao nếu quân Nguyên trở qua lần nữa?  Trần Hưng Đạo đă dặn ḍ vua Anh Tông như sau: "Đại khái nó cậy trường trận, ta dựa vào đoản binh.  Dùng đoản [binh] chế trường [trận] là sự thường của binhpháp.  Nếu chỉ thấy quân nó kéo đến như lửa, như gió th́ thế dễ chế ngự.  Nếu nó tiến chậm như cách tằm ăn, không cầu thắng chóng, th́ phải chọn đúng tướng giỏi, xem xét quyền biến, như đánh cờ vậy, tùy thời tạo thế, có được đội quân một ḷng như cha với con th́ mới dùng được.  Vả lại khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy.”.(Toàn thư, bản dịch tập 2, sđd. tr. 79.)

Kinh nghiệm thứ tư là những cuộc xâm lăng nhằm mục đích quân sự hay kinh tế không nguy hiểm bằng những cuộc xâm lăng nhằm tiêu diệt văn hóa Việt để đồng hóa dân tộc Việt.  Những cuộc xâm lăng không tiếng súng bằng văn hóa ảnh hưỏng lâu năm trong đời sống dân tộc.  Tiêu biểu cho loại nầy là cuộc xâm lăng của nhà Minh vào thế kỷ 15.  Sau khi chiếm nước ta vào năm 1407, các tướng nhà Minh chẳng những vơ vét của cải, vàng ngọc, mà c̣n bắt giới trí thức cũng như nghệ nhân người Việt đem về Trung Quốc, tịch thu và chở về Trung Quốc hầu như toàn bộ sách vở nước Việt đă có từ thời Hồ Quư Ly trở về trước.  Đó là sách của các tác giả sau đây: Lư Thái Tông (H́nh thư), Trần Thái Tông (H́nh luật, Quốc triều thông lễ,  Kiến Trung thường lễ, Khóa hư tập, Ngự thi), Trần Thánh Tông (Di hậu lục, Cờ cừu lục, Thi tập), Trần Nhân Tông (Trung hưng thực lục, Thi tập), Trần Anh Tông (Thủy vân tùy bút), Trần Minh Tông (Thi tập), Trần Dụ Tông (Trần triều đại điển), Trần Nghệ Tông (Bảo ḥa điện dư bút thi tập), Trần Hưng Đạo (Binh gia yếu lược, Vạn Kiếp bí truyền), Chu Văn Trinh tức Chu Văn An (Tứ thư thuyết ước, Tiều ẩn thi), Trần Quốc Toại (Sầm lâu tập), Trần Quang Khải (Lạc đạo tập), Trần Nguyên Đán (Băng Hồ ngọc hác tập), Nguyễn Trung Ngạn (Giới Hiên thi tập), Phạm Sư Mạnh (Giáp thạch tập), Trần Nguyên Đào (Cúc Đường di thảo), Hồ Tông Thốc tức Hồ Tông Vụ (Thảo nhàn hiệu tần, Việt nam thế chí, Việt sử cương mục), Lê Văn Hưu (Đại Việt sử kư), Nguyễn Phi Khanh (Nhị Khê thi tập), Hàn Thuyên (Phi sa tập), Lư Tế Xuyên (Việt điện u linh tập) ...

 

Cuối cùng, Trung Quốc là nước lân bang, ở ngay sát phía bắc nước ta, trong khi Pháp là một nước ở xa.  Người Trung Quốc và người Việt Nam có những điểm gần nhau về chủng tộc cũng như về văn hóa, đời sống.  V́ vậy, những cuộc xâm lăng của Trung Quốc nguy hiểm hơn cuộc xâm lăng của Pháp v́ Pháp có thể bóc lột khai thác dân tộc Việt một thời gian, nhưng người Pháp khác chủng tộc, khác văn hóa, khác môi trường sống, người Pháp đến rồi đi, không ở lại vĩnh viễn ở nước ta như người Trung Quốc.

3.   NGÀN NĂM GƯƠNG CŨ SOI KIM CỔ

Bà Huyện Thanh Quan, vào đầu thế kỷ 19, khi nhà Nguyễn dời đô từ Thăng Long vào Phú Xuân, đă ngậm ngùi thương nhớ cố đô trong bài “Thăng Long thành hoài cổ” như sau: “Tạo hóa gây chi cuộc hí trường, / Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương. / Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo, / Nền cũ lâu đài bóng tịch dương. / Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,/ Nước c̣n cau mặt với tang thương./ Ngàn năm gương cũ soi kim cổ, / Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.” 

Nếu Thăng Long là tấm gương mà Bà Huyện Thanh Quan mô tả: “Ngàn năm gương cũ soi kim cổ”, th́ tấm gương đó đă ẩn chứa biết bao nhiêu anh hùng liệt nữ đă hy sinh v́ dân tộc, nhưng đồng thời tấm gương đó cũng phản chiếu rất đầy đủ những kẻ phản quốc hại dân, nhất là trong thời hiện đại, kể từ khi xuất hiện đảng CSVN.

Trước hết, theo sử sách, Lư Thái Tổ dời đô đến Thăng Long sau một cuộc đảo chánh và tuyên chiếu đời đô, nói rơ nguyên nhân v́ sao nhà vua dời đô.  Năm 1945, Hồ Chí Minh cũng dời đô từ Huế ra Hà Nội, cũng sau một cuộc đảo chánh.  Hồ Chí Minh không có chiếu dời đô, mà có bản “Tuyên ngôn độc lập”.  “Tuyên ngôn độc lập” nói rơ lư do đảo chánh, kết án thực dân Pháp.

Những lời kết án nầy lại chính là lời báo trước chủ trương chính sách của CSVN cho đến ngày nay.  Hăy trích vài câu trong bản ‘Tuyên ngôn: “Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào….Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học.  Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương ṇi của ta.  Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu.  Chúng ràng buộc dư luận thi hành chính sách ngu dân.  Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn, để làm cho ṇi giống ta suy nhược…Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.  Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng.  Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lư, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn, trở nên bần cùng.”

Chữ “chúng” trong bản “Tuyên ngôn” dùng để chỉ người Pháp.  Tuy nhiên, ứng dụng những câu trên trong bản tuyên ngôn vào hoàn cảnh ngày nay, chủ từ trong những câu trên không ai khác hơn là CSVN: "không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào…. nhà tù nhiều hơn trường học, thẳng tay chém giết những người yêu nước thương ṇi, tắm các cuộc khởi nghĩa trong những bể máu, thi hành chính sách ngu dân, dùng thuốc phiện [ma túy], rượu cồn [nhậu khắp n ước], để làm cho ṇi giống ta suy nhược… cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệ,  giữ độc quyền in giấy bạ [Ngân hàng nhà nước Việt Nam], đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lư ...”

Nếu có một người nào nghịch ngợm, viết lại các câu nầy trong bản Tuyên ngôn do chính Hồ Chí Minh viết và đọc, nhưng đừng ghi xuất xứ, rồi gởi cho nhà cầm quyền CSVN hiện nay, người đó sẽ không khỏi bị công an CS bắt giữ ngay, giống như bắt giữ những người mang 6 chữ vàng HS-TS-VN (Hoàng Sa-Trựng Sa-ViệtNam).

 

Trở lại chuyện Lư Thái Tổ dời đô.  Nhà vua dời đô vào tháng 7 âm lịch.  Nhà cầm quyền CSVN hiện nay ở Hà Nội tổ chức lễ kỷ niệm một ngàn năm Thăng Long vào ngày 1-10-2010, tức ngày 24-8 năm canh dần (âm lịch).  Trong lịch sử Việt Nam, ngày 1-10 không ghi dấu bất cứ một sự kiện quan trọng nào của đất nước.  Trong lịch sử thế giới, ngày 1-10-1949, Mao Trạch Đông tuyên bố thành lập Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Quốc, tức 1-10 là ngày quốc khánh của Cộng sản Trung Quốc. 

Tổ chức lễ kỷ niệm một ngàn năm Thăng Long vào ngày quốc khánh Trung Quốc, nhà cầm quyền CSVN làm cho mọi người cảm giác là nhà cầm quyền CSVN muốn cùng góp vui với Trung Quốc nhân quốc khánh Trung Quốc, trong khi kinh nghiệm ngàn năm Thăng Long cho thấy Trung Quốc là nước lớn luôn luôn t́m cơ hội tấn công, chiếm đóng và thống trị Thăng Long, nghĩa là nhà cầm quyền Trung Quốc là kẻ thù số một của Thăng Long.

Sở dĩ mọi người có cảm giác như vậy v́ quan hệ mật thiết giữa đảng CSVN và đảng Cộng Sản Trung Quốc (CSTQ) trong 80 năm qua, từ khi Hồ Chí Minh vâng lệnh Đệ tam Quốc tế Cộng Sản thành lập đảng CSVN tại Hồng Kông ngày 6-1-1930.  Từ đó, đảng CSVN phát triển dưới ô dù của đảng CSTQ, nhất là từ năm 1950, khi Hồ Chí Minh cầu viện Liên Xô không được, phải quay qua nhờ Trung Quốc giúp đỡ.

Tục ngữ Việt Nam có câu: “Bà con xa không bằng láng giềng gần”, chỉ đúng trong trường hợp người bạn láng giềng gần tử tế, lương thiện không hiếp đáp ḿnh.  Đàng nầy, người bạn láng giềng gần Trung Quốc qua kinh nghiệm một ngàn năm Thăng Long, là kẻ ỷ thế nước lớn, đă nhiều lần hiếp đáp và chiếm đóng nước ta.  V́ vậy nhờ Trung Quốc đánh Pháp là một sai lầm lớn lao, nếu không muốn nói là một tội lỗi của Hồ Chí Minh và đảng CSVN đối với dân tộc, v́ một khi giúp Việt Nam đuổi Pháp, Trung Quốc sẽ điền thế chỗ của Pháp, thống trị Việt Nam. Sự thống trị của Trung Quốc c̣n tệ hại hơn của Pháp.  Bằng chứng là dưới thời Pháp thuộc, nước Việt vẫn vẹn toàn lănh thổ.  Trong khi nhờ Trung Quốc đánh Pháp, gọi là giành độc lập, mà dần dần nước ta mất đất, mất biển vào tay Trung Quốc

Sau đó, cầu viện Trung Quốc để đánh Mỹ lại càng sai lầm hơn nữa.  Có hai sự kiện cụ thể dễ thấy chứng minh sự sai lầm của CSVN trong vụ chống Mỹ.  Thứ nhất, chỉ cần nh́n qua các nước Á Châu gần nước Việt.  Mỹ chiến thắng Nhật Bản, tiến quân đến Triều Tiên, nhưng Mỹ đâu có xâm lăng hai nước nầy, mà c̣n giúp hai nước nầy phục hưng sau thế chiến và cường thịnh như ngày nay.  Thứ hai, chính nhà cầm quyền CSVN, vào đầu thế kỷ 21, trải thảm đỏ rước Mỹ vào để vực dậy nền kinh tế Việt Nam và làm đối trọng với Trung Quốc trong cuộc tranh chấp Biển Đông.

Tuy hiện nay muốn nhờ Mỹ để lấy thế mặc cả với Trung Quốc, CSVN vẫn c̣n nằm dưới trướng của Trung Quốc, vẫn muốn đu giây giữa Trung Quốc và Mỹ, và nhất là lo sợ đàn anh Trung Quốc trả đũa giống như đă từng trả đũa năm 1979 khi CSVN bỏ Trung Quốc chạy theo Liên Xô, nên bị Trung Quốc “dạy” cho một bài học.  Phải chăng v́ vậy mà đảng CSVN làm lễ kỷ niệm ngàn năm Thăng Long vào ngày 1-10-2010 để gọi là mừng ngàn năm Thăng Long, nhưng thực chất là mừng quốc khánh Trung Quốc nhằm lấy ḷng đàn anh Trung Quốc? 

Muốn chống lại Trung Quốc, chẳng những phải mượn thế của Mỹ, mà quan trọng hơn phải tạo nội lực dân tộc, phải thực hành như Đức Trần Hưng Đảo đă dạy: “Vả lại khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy.”  Khoan thư sức dân như thế nào, chắc chắn đảng CSVN dư biết, nhưng cũng chắc chắn không phải cách kỷ niệm ngàn năm Thăng Long đúng vào ngày quốc khánh Trung Quốc.

 

Kỷ niệm ngàn năm Thăng Long là để tưởng nhớ đến sự kiện lập đô hết sức trọng đại của Lư Thái Tổ và tưởng nhớ đến quá tŕnh sống c̣n của dân tộc với kinh đô Thăng Long, mà CSVN lại tổ chức vào ngày quốc khánh Trung Quốc, là một hành vi quốc nhục, xỉ vả vào lịch sử Thăng Long, lăng nhục lịch sử dân tộc.  Tuyệt đại đa số người Việt Nam không chấp nhận thái độ kinh mạn nầy của CSVN.  Lễ kỷ niệm chỉ diễn ra vài ngày phù du, nhưng vết nhơ quốc nhục do đảng CSVN gây ra sẽ được dân chúng truyền tụng thiên thu, theo như câu ca dao:: "Trăm năm bia đá th́ ṃn,/ Ngàn năm bia miệng vẫn c̣n trơ trơ.”

TRẦN GIA PHỤNG (Toronto, 1-9-2010)

-------------------------------------------------------------------------------- 

 

TÂM THƯ GỞI CÁC TƯỚNG LĂNH QĐNDĐCSVN

 

Trần Bảo Việt  ( Sài G̣n )

 

Kính thưa quư vị

       Đă hơn 65 năm kể từ ngày ĐCSVN thực sự nắm quyền lănh đạo ở miền Bắc và hơn 35 năm giải phóng miền Nam. Đất nước và nhân dân VN đă phải đối diện quá nhiều những đau thương và mất mát, Hoàng sa và những ḥn đảo chiến lược của Trường sa, Ải Nam Quan, 2/3 thác Băn Giốc, băi Tục Lăm, cao điểm chiến lược 1509 của núi Đất mà hiện nay TQ đă đổi thành Lăo Sơn với 3700 chiến sĩ vừa chết và c̣n sống đă bị TQ chôn chung một hầm năm 1984, cộng thêm trên 8 ngàn km2 vùng biển vịnh Bắc bộ. Những phần đất và hải đảo thân yêu này của Tổ quốc đă thực sự rơi vào tay của bọn người TQ qua các hiệp ước, hiệp định mà chính quyền CSVN đă kư nhượng cho họ. Từng làng mạc của 6 tỉnh địa đầu đă bị bọn xâm lăng TQ san bằng vào tháng 2 năm 1979, hơn 90% những công tŕnh trọng điểm của đất nước được ưu tiên cho TQ trúng thầu vẫn c̣n nằm ngỗn ngang chưa hoàn thành, mặc dù thời gian hợp đồng đă hết hạn quá lâu, hàng hóa có chứa chất độc của TQ đang tiếp tục tràn lan trên thị trường VN. Đặc biệt, đại dự án Bô xít Tây nguyên đang được TQ khai thác vô tội vạ khiến cho cuộc sống và nền văn hóa lâu đời của các dân tộc thiểu số Tây nguyên đang đi dần vào điểm chết, cũng từ sự độc tài cho TQ khai thác Bô xít của các nhà lănh đạo VN bất chấp mọi can ngăn và phản đối của đại tướng Vơ nguyên Giáp và trên 3000 nhà trí thức, khoa học đầy ḷng yêu nước trong và ngoài nước cộng thêm hàng trăm ngàn hecta rừng chiến lược đầu nguồn đă được các quan đầu tỉnh cho TQ, HK, ĐL thuê thời hạn 50 năm, tất cả đă hứa hẹn cho một đại nạn về ô nhiễm môi trường cũng như ảnh hưởng đến sự mất c̣n của đất nước trong tương lai...v.v…Những ngư dân đánh cá của ta bị bọn người TQ bắt bớ, đánh đập, tịch thu tài săn và đ̣i tiền chuộc cùng với sự đàn áp không nương tay của lực lượng công an đối với các cuộc biểu t́nh chống TQ xâm lăng của sinh viên, học sinh và các thành phần yêu nước bất đồng chính kiến đấu tranh cho quyền tự quyết của dân tộc, và quyền tự do nhân bản của con người bằng phương pháp ôn ḥa bất bạo động đúng với điều 69 HPVN và các công ước quốc tế mà VN đă tự nguyện tham gia cam kết thi hành. Đây là nỗi đau lịch sử mà nhân dân đang phải gánh chịu trong sự căm hờn trước mộng bá quyền của kẻ thù TQ cùng sự ươn hèn của các nhà lănh đạo ĐCSVN. Chúng tôi không sao hiểu nỗi về tinh thần trách nhiệm đối với dân tộc và ḷng yêu nước của các nhà lănh đạo VN khi hàng ngày vẫn thường tuyên bố là v́ dân v́ nước, hàng ngày vẫn thường khẳng định về chủ quyền trên quần đảo HS-TS, nhưng khi những hàng chử HS-TS-VN được các sinh viên, học sinh vẽ lên trên các ngă đường để nhắc nhở cho toàn dân biết rằng HS-TS là những phần đất thiêng liêng của Tổ quốc, th́ công an lại xóa đi và theo dơi những ai ghi các ḍng chử này để bắt.

Kính thưa quư vị.

      Quư vị là những tướng lănh trong quân đội, là thành tŕ để bảo vệ đất nước, bảo vệ cuộc sống yên lành cho toàn dân trong đó có thân nhân và gia đ́nh của quư vị. Khi viết lá thư này, chúng tôi không có ư đă kích hay thù hằn bởi v́ giữa quư vị và chúng tôi đều là người VN, đều có chung niềm tự hào dân tộc mà tiền nhân ta đă phải hy sinh không biết bao nhiêu xương máu để cho chúng ta có được cuộc sống như ngày hôm nay. Chắc quư vị cũng biết là tại v́ sao mà phong trào cải cách ruộng đất long trời lở đất với chủ trương đào tận gốc, trốc tận rễ đă xảy ra với nhân dân miền Bắc vào những năm 1954-1956, khiến cho trên 100 ngàn người dân vô tội phải bị chết oan trong đó, có những người đă từng cưu mang và nuôi dưỡng chủ tịch Hồ chí Minh và toàn ban lănh đạo đảng điển h́nh là bà Nguyễn thị Năm, khiến cho chủ tịch Hồ chí Minh sau đó phải ngậm ngùi rơi lệ và nói lời xin lỗi trước toàn dân để rồi, tiếp theo là cuộc thanh trừng các văn nghệ sĩ cấp tiến có tinh thần yêu trong phong trào Nhân văn giai phẩm. Tất cả cũng v́ các nhà lănh đạo ĐCSVN theo lệnh của bọn người ĐCSTQ.

        Nói lên nỗi đau của sự thật này, chúng tôi không muốn khơi lại vết thương ḷng trong quá khứ của dân tộc, mà chúng tôi chỉ muốn rằng: từ đây nhân dân VN trong đó có quư vị, phải nh́n lại chính ḿnh để cùng nhau hướng về một tương lai tốt đẹp cho đất nước, cho cuộc sống yên lành của toàn dân để rồi có những kế sách và hướng đi phù hợp với sự phát triển của đất nước trong thời đại văn minh này của thế giới. Hăy khách quan mà nhận định để biết là đất nước VN có nhất thiết phải đi theo con đường chủ nghĩa cộng săn, có nhất thiết phải thực hiện kinh tế thị trường theo định hương xă hội chủ nghĩa, có nhất thiết phải lệ thuộc hoàn toàn vào TQ hay không?.

      Nh́n chung trên thế giới, những nước có nền văn minh tiến bộ, nhân dân được sống ấm no hạnh phúc, có đầy đủ tự do dân chủ và nhân quyền đều là những nước theo thể chế đa nguyên, đa đảng. Một đất nước Cu ba nghèo khổ bên cạnh Hoa kỳ, một Bắc Hàn mà nhân dân luôn thiếu ăn bên cạnh Nam Hàn giàu sang, một Đông Đức nghèo nàn để rồi cuối cùng phải trở về thống nhất với Tây Đức, một ḥn đảo Đài Loan bé nhỏ nhưng cuộc sống của người dân vẫn giàu sang, sung sướng hơn hẳn anh khổng lồ TQ. Ngay cả tại VN trước 1975, cuộc sống của nhân dân miền Nam vẫn sung sướng hơn nhân dân miền Bắc rất nhiều, miền Nam VN lúc đó c̣n được thế giới gọi là ḥn ngọc viễn đông hơn hẳn Thái lan, Indonesia, Malaysia và Singapore…v.v…. Lư thuyết của chủ nghĩa CS thật sự là hoang đường và không tưởng không thể thực hiện được vào thực tế. V́ thế cho nên, cả khối cộng sản Đông âu và Liên sô nơi phát sinh ra nó phải cáo chung để trở về với nền dân chủ đa nguyên. Sau khi Liên sô sụp đổ cựu TBT ĐCSLX Michkhail Gorbachev thuyết tŕnh tại viện đại học Columbia HK ngày 12/3/2002: “ …..những cán bộ đảng chỉ điều hành quốc gia với sự gian dối. Chúng tôi trong đó có tôi từng nói: chủ nghĩa tư bản đang đi đến sự hủy diệt, trong khi chúng tôi đang phát triển tốt đẹp. Lẽ dĩ nhiên đó chỉ là những lời tuyên truyền và nói dối. Trên thực tế quốc gia của chúng tôi đang bị bỏ rơi lại đằng sau…. Tôi đă bỏ hơn nửa đời người để chiến đấu cho lư tưởng cộng sản. Nhưng hôm nay tôi phải đau buồn mà nói rằng: Cộng sản chỉ biết tuyên truyền và nói láo”. Bà thủ tướng nước Đức Angela Merkel ( cựu đảng viên ĐCS Đông Đức ) nhận định: “ Cộng sản là một chế độ tạo ra gian dối và lừa đảo”. Đương kim tổng thống Nga Medvedev phát biểu tại buổi lễ kỷ niệm 65 năm chiến thắng phát xít Đức có sự tham dự của chủ tịch Nguyễn minh Triết: “….. điện Kremlin của Nga sẽ không sử dụng các biểu tượng của chủ nghĩa CS và Staline. Sự trở lại của chủ nghĩa CS và Staline đă hoàn toàn bị loại trừ, cuối cùng ông kết luận: tôi đă chờ quá lâu để nói lên sự thật này”. Trong chuyến viếng thăm nước Nga của TBT Nông đức Mạnh ngày 9/7/2010, tổng thống Nga Medvedev cũng khuyên ông Mạnh là nên từ bỏ cái tư tưởng đại đồng CNCS đi bởi v́, đất nước không thể nào phát triển được nếu cứ tiếp tục hô hào tiến lên XHCN. XHCN chỉ là lư thuyết suông và không bao giờ thành công trên thực tế, nước Nga đă sai lầm v́ có Lê nin và Staline. C̣n thủ tướng Nga Putin ( cựu tổng thống Nga ) cũng phát biểu rằng: “ CNCS không thể sửa đổi, mà phải thay thế”. CNCS về mặt lư thuyết th́ thật tuyệt vời, nhưng nó sẽ không bao giờ có trong thực tế khiến cho ông Aristide Briand ( cựu thủ tướng Pháp ) cũng nhận định: “….một người ở tuổi 20 mà không theo CNXH là người không có trái tim, nhưng nếu đến tuổi 40 mà c̣n mê CNXH th́ đúng là người không có khối óc”. Mới đây trang mạng tuanvietnam.net có đăng bài viết của một tướng lănh không quân TQ là ông Lưu Á Châu, ông này cảnh cáo TQ phải đi theo nền dân chủ kiểu Mỹ hoặc sẽ chấp nhận sự sụp đổ theo kiểu Xô viết.

       Trên đây là những dẫn chứng điển h́nh từ những nhân vật đă từng đứng trong hàng ngũ lănh đạo cộng sản trên thế giới, nhưng họ đă nh́n ra được sự thật để ngày hôm nay tất cả đều phải quay lưng để trở vế với con đường dân chủ đa nguyên, đất nước của họ đang hồi sinh sau một giấc ngủ dài.          

       C̣n đất nước VN th́ sao?. Chúng ta vẫn có những nhà lănh đạo, những tướng lănh và những đảng viên trí thức đă nh́n ra được cái sai lầm của CNCS, họ đă can đảm hô hào và chủ trương cho một cuộc đổi mới dân chủ phù hợp với ư nguyện của toàn dân, phù hợp với sự đi lên của đất nước như giáo sư TS Hoàng Minh Chính ( cựu trưởng ban nghiên cứu chủ nghĩa Marx-Lenin, cựu hiệu trưởng trường Nguyễn ái Quốc, cựu TTK đảng Dân Chủ VN ), trung tướng Trần Độ, thiếu tướng Nguyễn Hộ, nhà nghiên cứu Lê Hồng Hà ( cựu chánh văn pḥng bộ Công an ), cựu UVBCT Nguyễn Xuân Bách, trung tướng Đặng Quốc Bảo, trung tướng Đồng Sĩ Nguyên, thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, nhà ngoại giao Dương Danh Dy và Nguyễn Trung, đại tá Phạm Quế Dương, trung tá Trần Anh Kim, các nhà khoa học, các nhà văn và các nhà trí thức như TS Nguyễn Thanh Giang, TS Hà Sĩ Phu, BS Phạm Hồng Sơn, kỹ sư Đỗ Nam Hải, nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, nữ lưu Phạm Thanh Nghiên, Hồ Thị Bích Khương, Nguyễn Thu Trâm, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, Trần Mạnh Hảo, Trần Đức Thạch, Tô Hải, nhà giáo Nguyễn Thượng Long, Vũ Hùng, LS Lê Công Định, thạc sĩ Nguyễn Tiến Trung, LS Lê Thị Công Nhân, LS Nguyễn Văn Đài…v.v…, c̣n rất nhiều những nhân vật già trẻ đầy ḷng yêu nước mà chúng tôi không thể nêu ra hết được. Họ là những người thực sự có tŕnh độ trí thức, được sự giáo dục của đảng và trưởng thành trong thời gian ĐCSVN đang lănh đạo đất nước. Nhưng rất tiếc v́ sự tham quyền cố vị và độc tài độc đoán của các nhà lănh đạo CSVN hiện tại mà họ đang bị trù dập, bị trả thù không nương tay hoặc đang bị giam cầm trong những nhà tù khắc nghiệt để làm giảm đi ư chí đấu tranh của họ. Tuy nhiên, một thực tế cho chúng ta thấy rằng: chính quyền CSVN hiện tại càng đầy đọa họ bao nhiêu th́ họ lại càng vững tin trên con đường đấu tranh v́ chính nghĩa của họ bấy nhiêu.

      Trong lịch sử VN từ xưa đến nay, chưa có một triều đại nào tự động dâng những phần đất thiêng liêng của Tổ quốc cho ngoại bang, cũng chưa có một chính quyền nào mà gần hết những con người lănh đạo từ trung ương xuống tận địa phương đều có bằng cấp giả tạo để giữ vững uy quyền và chức vụ, cũng như chưa có một chính quyền nào mà số người dân oan bị áp bức đi khiếu kiện càng ngày càng đông như chính quyền CSVN hiện nay. C̣n nạn tham nhũng, tiêu cực, mua quan bán chức khắp từ trương ương đến hạ tầng cơ sở th́ hầu như là công khai, là câu chuyện dài không có hồi kết. Chính ông chủ tịch nước Nguyễn minh Triết phải trấn an các Việt kiều trong hội nghị Việt kiều được tổ chức tại Hà nội năm 2009: là đừng có ngạc nhiên khi VN ngày nay tham nhũng nhất  thế giới, đây là quy luật muôn đời. Nhưng xét cho cùng sở dĩ tệ nạn tiêu cực, tham nhũng đang lan rộng trong guồng máy chính quyền là cũng do sự điều hành của các thành phần lănh đạo đất nước, điển h́nh như thủ tướng Nguyễn tấn Dũng, ông là trưởng ban chống tham nhũng nhưng khi trả lời chất vấn của đại biểu Trần thị Quốc Khánh trước QH tháng 9/2009 th́ ông lại tuyên bố: noi gương theo thủ tướng Phạm văn Đồng là sẽ không kỷ luật ai. Ngoài ra, các quan tham c̣n có những tệ hại khác nữa như chuyện cưỡng dâm nữ sinh vị thành niên mà điển h́nh là chủ tịch tỉnh Hà giang Nguyễn trường Tô, tuy hiện nay ông đă bị cách chức nhưng vẫn sống tự do ngoài ṿng pháp luật, c̣n 2 nữ sinh nạn nhân th́ vẫn tiếp tục trong ṿng lao lư với rừng công an thi nhau ép cung các em, không cho LS Trần Đ́nh Triển tiếp xúc với các em. Chúng tôi xin hỏi nếu con cháu của quư vị ở trong trường hợp này th́ quư vị sẽ hành động ra sao?. 

       Chính v́ sử dụng những con người không có tài và đức trong hàng ngũ lănh đạo bởi v́, chỉ có đảng viên mới được làm trưởng các cơ quan đầu nghành trong guồng máy chính quyền, nhưng tŕnh độ của đảng viên th́ đều là chấp vá bằng phe phái, bằng chuyên tu và tại chức, dốt nhưng vẫn có bằng  tốt nghiệp cấp 3, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ mà báo chí trong thời gian qua đă phanh phui cho nên, đất nước không thể tiến bộ ngang tầm với các nước cùng khu vực, đại bộ phận nhân dân th́ nghèo khổ mặc dù số nợ vay nước ngoài càng ngày càng chất chồng thêm. Thành phần giàu có hầu hết đều rơi vào các quan to và những người có thế lực ăn theo, một số ít c̣n lại là có bà con thân nhân là Việt kiều giúp đỡ. Những đảng viên lănh đạo các công ty và tập đoàn quốc doanh th́ tự do móc ngoặc để làm giàu bất chính, khi đổ bể ra th́ có ngân sách nhà nước do nhân dân đóng thuế trả nợ, c̣n họ th́ bất quá chỉ bị cách chức, thuyên chuyển qua cơ quan khác hoặc nếu không thể bao che cho nhau được th́ bị ở tù với mức án tượng trưng như trường hợp PMU18, PCI, vụ sập cầu Cần thơ, Vinashine…v.v….Theo báo cáo của ủy ban thanh tra nhà nước, năm 2009 mới thanh tra qua một ṿng phân nửa các tỉnh thành của cả nước đă khám phá số tiền thất thoát là 181 ngàn tỷ, c̣n tập đoàn Vinashine sau gần 5 năm hoạt động số tiền thất thóat là gần 90 ngàn tỷ, đây là những tảng băng nổi, c̣n ch́m th́ không biết bao nhiêu.

       Con cái của các quan to và nhà lănh đạo đều được du học ở các nước dân chủ đa nguyên như Hoa kư, Úc, Canada, Pháp, Anh…v.v…, mặc dù vẫn ca ngợi và trung thành với mô h́nh phát triển của TQ nhưng chưa có một quan to nào cho con du học ở TQ cả. Danh sách của trên 300 đảng viên lănh đạo của đảng gởi tiền tại ngân hàng nặc danh Thụy sĩ, mỗi người đều gởi từ 900 triệu đô la cho đến 2 tỷ đô la. Thử hỏi họ đă làm ǵ mà giàu nhanh như vậy?.

      Nền giáo dục th́ học sinh, sinh viên chỉ biết học từ chương theo sự chỉ dạy của thầy cô, mà thầy cô th́ không được quyền nhân rộng ra ngoài những  tiêu chí mà đảng đề ra. Do đó, chúng ta cũng đừng thắc mắc tại sao cùng là người VN mà số sinh viên được đào tạo ở các nước dân chủ đa nguyên lại giỏi và thành công hơn các sinh viên được đào tạo ở trong nước gấp trăm lần. Điển h́nh là trường hợp của nhà toán học Ngô Bảo Châu và Lê Bá Khánh Tŕnh. Lê Bá Khánh Tŕnh đă từng đoạt cúp vàng trong cuộc thi toán quốc tế và được nữ hoàng Anh trao giải thưởng, nhưng Khánh Tŕnh chỉ được đi du học ở Liên sô cũ và rồi về nước cho nên, tư duy không được phát triển. C̣n Ngô Bảo Châu v́ được một nền giáo dục quá thông thoáng của Pháp đào tạo cho nên, tư duy của ông đă được phát triển tự do và ông đă được nghành toán học của thế giới trao giải Fields cao quư nhất v́ sự phát minh bổ đề toán học Langland của ông.

      Một chính quyền quá thối nát, quá lệ thuộc vào kẻ thù TQ đă báo hiệu cho một tương lai đen tối của đất nước là điều không thể nào tránh khỏi. Nhưng kể từ khi HK tuyên bố trở lại biển Đông không cho TQ tự do làm mưa làm gió nữa th́ cục diện t́nh h́nh trong khối Asean có phần khởi sắc và TQ hầu như đă chùn bước. Những tàu chiến tối tân nhất của Hoa kỳ đă nhiều lần cặp bến Đà nẵng VN trong đó, có những hạm trưởng là người VN đă là những tín hiệu đáng mừng cho tương lai của đất nước và cũng tạo niềm tin cho toàn dân về nền độc lập dân tộc. Điều này đă khiến cho LS Cù Huy Hà Vũ phải tuyên bố rằng: “ liên minh quân sự với Hoa kỳ là mệnh lệnh của thời đại”. Chúng ta phải công minh để nhận xét: tất cả các nước đồng minh của Hoa kỳ, chưa có nước nào bị Hoa kỳ tuyến bố chủ quyền dù chỉ một tấc đất, kể cả những nước có nợ máu với Hoa kỳ trong chiến tranh như Nhật và Đức, nhưng khi chiến tranh chấm dứt Hoa kỳ vẫn giúp các nước này ngày nay trở thành giàu có trên thế giới, kể cả đảo quốc Cu ba trước 1949 là một tiểu bang của Hoa kỳ, nhưng Fidel Castro là thị trưởng lúc đó theo CNCS của Liên sô và được sự đồng t́nh của nhân dân Cu ba th́ Hoa kỳ vẫn không phản đối. C̣n đối với TQ th́ hoàn toàn ngược lại, cũng v́ mộng bá quyền mà họ đă chiếm Tây Tạng, Tân Cương và cũng v́ sai khiến được các nhà lănh đạo CSVN mà họ đă ngang nhiên chiếm HS-TS, vùng biển vịnh Bắc bộ cùng với hơn 700km2 các vùng đất địa đầu chiến lược của đất nước ta.

      Trong t́nh thế hiện nay khi mà hàng ngày trên báo chí TQ đều đồng loạt hô hào cho một cuộc tấn công VN. Nhưng các nhà lănh đạo VN th́ vẫn một mực trung thành với 16 chữ vàng và 4 tốt đối với TQ, lại c̣n đưa thứ trưởng BQP Nguyễn chí Vịnh ( một con người bất tài vô dụng đă được đại tướng Vơ nguyên Giáp cùng các tướng lănh trong quân đội bất tín nhiệm và đă bị trung tá Vơ minh Trí lột trần hành động bán nước và cấu kết với t́nh báo Hoa nam TQ ), thực hiện chuyến viếng thăm TQ để đưa ra chính sách 3 không của VN là: không tham gia các liên minh quân sự hoặc đồng minh quân sự với bất kỳ nước nào, không cho bất kỳ nước nào đặt căn cứ quân sự tại VN và không dựa vào nước này để chống nước kia. Rơ ràng chính sách 3 không mà Nguyễn chí Vịnh đưa ra là nhằm phục vụ quyền lợi của TQ. V́ thế cho nên, sau lời tuyên bố của Nguyễn chí Vịnh th́ TQ đă tiến hành cấm cờ dưới ḷng biển Đông thuộc hải phận VN để khẳng định chủ quyền của họ nhưng các nhà lănh đạo VN vẫn câm nín. Một chính quyền với các thành phần lănh đạo như thế có xứng đáng để lănh đạo đất nước hay không?. Chuyện đi hàng hai, đến với Hoa kỳ để moi tiền trong khi vẫn trung thành với TQ để giữ vững độc quyền lănh đạo là điều cực kỳ nguy hiểm.

      Chúng tôi nghĩ trong giờ phút hiểm nguy này của Tổ quốc th́ chỉ có con đường duy nhất là các nhà lănh đạo VN phải mạnh dạng từ bỏ độc quyền, hy sinh quyền lợi cá nhân để nghĩ về lợi ích chung của đất nước và toàn dân, thực hiện con đường dân chủ đa nguyên để tạo sự đoàn kết trong nhân dân. Tinh thần ḥa hợp, ḥa giải dân tộc và đoàn kết thành một khối của cộng đồng VN hải ngoại cùng với 86 triệu đồng bào trong nước th́ mới giữ vững được độc lập và toàn vẹn lănh thổ của đất nước. Trong khi lực lượng công an chỉ biết c̣n đảng c̣n ḿnh mà quên đi nhiệm vụ thiêng liêng là bảo vệ đất nước và cuộc sống yên lành của toàn dân. Giờ đây, đất nước và toàn dân đang đặt trọn niềm tin vào lực lượng quân đội nhân dân trong đó, tin chắc rằng vẫn c̣n những tướng lănh tài ba trong quân đội sẵn sàng nhận lănh trách nhiệm trước lịch sử.

Sá G̣n ngày 1/9/2010

Trần Bảo Việt

--------------------------------------------------------------------------------------------------------- 

 

Hội luận về Biển Đông do Hà Nội tổ chức chỉ là hỏa mù:

Việt Nam sẽ mất Hoàng Sa, Trường Sa và phần lớn vịnh Bắc Việt về tay Trung Cộng nếu Đảng CSVN tiếp tục cầm quyền

Nguyễn Thành

Điều-phối-viên “Ủy Ban Công Lư-Hoà B́nh cho Hoàng Sa-Trường Sa của VN”

Thông Báo của LHQ

Ủy Ban Thềm Lục Địa LHQ [từ đây gọi tắt là Ủy Ban = Commission] đă kết thúc khoá họp 24 về thềm lục địa mở rộng ra ngoài 200 hải lư tại trụ sở LHQ ở New York vào ngày 11 tháng 12 năm 2009. Bản tường tŕnh rất dài của Ủy Ban [Statement of Commision CLCS/64] đă được phổ biến trên trang nhà “UNCLOS” và chúng tôi xin tóm lược một số điều cần biết hay liên quan tới Việt Nam dưới đây.

1. Ủy Ban cho biết đă nhận được 35 hồ sơ mới của 41 nước ven biển nộp cho khóa họp thứ 24 của Ủy Ban, từ 10/8/2009 đến 11/9/2009. Tuy là khóa họp 24 của Ủy Ban nhưng là khóa họp đầu tiên về thềm lục địa mở rộng sau hạn kỳ nộp đơn 10 năm, tính từ 13/5/1999 đến 13/5/2009. V́ số lượng hồ sơ quá nhiều nên Ủy Ban đă phải kéo dài khoá họp thêm 2 lần, mỗi lần 1 tuần lễ vào đầu tháng 11 và 12/2009. Nhưng Ủy Ban vẫn chưa giải quyết được ǵ về 35 hồ sơ mới, trong đó có 2 hồ sơ của Hà Nội.

2. Ủy Ban đă dành gần hết thời gian khoá họp để giải quyết 5 hồ sơ [của Pháp, Barbados, Anh+North Ireland, Indonesia, Nhật] tồn đọng từ các khóa họp trước. Dù cả 5 hồ sơ này đều đă được các Tiểu Ban [Sub-Commission] thành lập bởi các khóa họp cũ để xem xét và đề nghị khuyến cáo, Ủy Ban chỉ giải quyết dứt điểm được 1 hồ sơ của Pháp nộp từ hơn 2 năm trước. Bốn hồ sơ cũ c̣n lại, Ủy Ban có giải quyết được th́ sớm nhất cũng là năm 2010 [và rất có thể c̣n trễ hơn nữa].

 

3. Ủy Ban cũng cho biết đă nghe đại-diện 18 nước tŕnh bầy về 15 hồ sơ xin mở rộng thềm lục địa [trong số 35 hồ sơ mới], trong số này đại diện Hà Nội [Huỳnh Minh Chính, Phó Ban Biên Giới, Bộ Nhoại Giao] đă tŕnh bầy về hồ sơ nộp với Mă Lai ngày 6/5/2009 liên quan tới Nam Biển Đông trong đó có quần đảo Trường Sa và tŕnh bầy về hồ sơ 7/5/2009 liên quan tới Bắc Biển Đông trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Vịnh Bắc Việt.

   Điều cần lưu ư ở đây là:

   -Ngày 13/5/2009 là ngày chót để nộp hồ sơ thềm lục địa mở rộng ra ngoài 200 hải lư. Tuy Hà Nội tuyên bố trên báo chí và trong lời mở đầu hồ sơ ngày 6/5/2009 là xin “mở rộng” thềm lục địa VN nhưng  thực ra th́ Hà Nội chỉ xác nhận lănh hải VN có 200 hải lư trong cà hồ sơ nộp Ủy Ban.

   -Vùng biển rộng 200 hải lư này, theo Luật Biển LHQ, là Vùng Đặc Quyền Kinh Tế mà các nước ven biển đương nhiên được hưởng, không cần phải đăng kư với Ủy Ban và chính Hà Nội cũng đă đăng kư Vùng Đặc Quyền Kinh Tế 200 hải lư này từ ngày 12/11/1982 rồi.

   -Theo Các Qui Tắc về Thủ Tục của Luật Biển th́ Ủy Ban sẽ không cứu xét và phê chuẩn hồ sơ nếu có sự phản đối hay tranh chấp. Cả 2 hồ sơ của Hà Nội đều được rêu rao ầm ĩ là bị Trung Cộng và Phi Luật Tân phản đối ngay sau khi nộp nhưng vẫn được Ủy Ban cứu xét và rất có thể sẽ thông qua.

4. Về Thủ Tục Cứu Xét, muốn mở rộng thềm lục địa ngoài 200 hải lư, nước ven biển phải nộp hồ sơ cho Ủy Ban. Thời hạn nộp hồ sơ là 10 năm và hạn kỳ chót là ngày 13/5/2009 [như đă nói trên] và gồm các bản đồ kỹ thuật với toạ độ và cách tính để qui định đường ranh thềm lục địa ngoài 200 hải lư theo qui định của Luật Biển LHQ. Tổng Thư Kư LHQ phải thông báo bằng văn bản cho các nước hội viên Luật Biển khi nhận được hồ sơ. Văn bản thông báo này cũng phải được phổ biến trên trang nhà UNCLOS.

   Để giải quyết 1 hồ sơ, Ủy Ban trước hết phải chỉ định 1 Tiểu Ban 7 người để xem xét hồ sơ. Tiểu Ban họp riêng khi xem xét hồ sơ và có thể yêu cầu nước nộp hồ sơ cung cấp thêm tài liệu hoặc thay đổi hồ sơ, nếu cần. Tiểu Ban phải thông báo cho nước liên hệ biết kết luận về hồ sơ của Tiểu Ban và phải đọc cho nước này biết các khuyến cáo [Recommendations] của Tiểu Ban trước khi đệ tŕnh Ủy Ban.

   Trong lúc Ủy Ban hội họp để thận trọng duyệt xét các khuyến cáo do Tiểu Ban đệ tŕnh, nước liên hệ có quyền yêu cầu để được tŕnh bầy quan điểm của ḿnh về khuyến cáo của Tiểu Ban. Ủy Ban cũng có thể yêu cầu nước liên hệ thay đổi một phần hay toàn bộ hồ sơ cho phù hợp với các tiêu chuẩn của Luật Biển LHQ. Nếu Ủy Ban không có ư kiến khác th́ khuyến cáo của Tiểu Ban sẽ là quyết định của Ủy Ban. Quyết định của Ủy Ban có giá trị chung quyết và ràng buộc nước đệ tŕnh hồ sơ.

   Ủy Ban Phân Ranh Thềm Lục Địa khoá họp thứ 24 [vừa kết thúc] do Đại Hội Đồng các nước hội viên Luật Biển LHQ [họp từ 14 đến 15/6/2007] bầu ra, gồm 21 ủy viên, với nhiệm kỳ 5 năm, từ 16/6/2007 đến 15/6/2012. Như thế, Ủy Ban chỉ có thể thành lập tối đa là 3 Tiểu Ban và đó là lư do khiến việc giải quyết hồ sơ rất chậm, thường mất nhiều năm. Các thí dụ sau đây chứng tỏ điều này: 1] Hồ sơ của Brazil nộp ngày 17/5/2004, Ủy Ban giải quyết ngày 9/4/2008, mất 4 năm. 2] Hồ sơ Barbados nộp ngày 8/5/2008, Ủy Ban hẹn sẽ giải quyết vào năm 2010. 3] Hồ sơ Cuba nộp ngày 1/6/2009 [tức sau 13/5/2009 17 ngày], Ủy Ban quyết năm 2030 mới giải quyết, tức 20 năm nữa.

   Một điều đáng lưu ư nữa là trong số 21 ủy viên của Ủy Ban có đại diện Trung Cộng, Bắc Hàn và Nga.

Như thế, Hà Nội vừa ở lợi thế cầm quyền và hội viên Luật Biển nên có thể nộp hồ sơ cho Ủy Ban về thềm lục địa mở rộng rồi có thể bổ túc hay thậm chí thay đổi toàn bộ hồ sơ sau khi nộp; thêm vào đó trong số 21 thành viên của Ủy Ban đương nhiệm [nhiệm kỳ 5 năm nên quyền hành c̣n kéo dài tới năm 2012] có đại diện của Nga và nhất là Trung Cộng và đàn em Bắc Hàn; Hà Nội gần như “muốn sao được vậy;” Hà Nội [và Bắc Kinh] biết rất rơ những điều trên đây nên đă và đang lợi dụng tối đa những lợi thế này để “hoàn tất” những ǵ 2 Đảng CS đă thỏa thuận ngầm từ bao năm nay. V́ thế, Đảng CSVN c̣n cầm quyền th́ Việt Nam [chí ít] sẽ mất và mất vĩnh viễn Hoàng Sa, Trường Sa và phần lớn Vịnh Bắc Việt vào tay bành trướng Bắc Kinh bằng chính Luật Biển LHQ.

[Dưới đây là tóm lược bài phân tích 2 hồ sơ của Hà Nội nộp Ủy Ban Phân Ranh Thềm Lục Địa vào ngày 6 và 7/5/2009. Người viết thực hiện bài phân tích này vào đầu tháng 7/2009 [tức 1 tháng trước khi Ủy Ban Thềm Lục Địa khai mạc khoá họp 24 vào ngày 10/8/2009 và 5 tháng trước khi Ủy Ban phổ biến Thông Báo nói trên] để thuyết tŕnh tại 2 buổi Hội Luận “T́m Phương Cứu Nguy Đất Nước” do TS Nguyễn Thanh Liêm [cựu Thứ Trưởng Giáo Dục VNCH] tổ chức ở Little Sàig̣n, Thủ Đô của Người Việt Tị Nạn CS ở Hoa Kỳ, vào 2 ngày 25 và 26/7/2009, được trực tiếp truyền h́nh toàn Hoa Kỳ]

Nhận Định                                                                

1. Để có một nhận định chính xác về 2 hồ sơ của Hà Nội, trước hết cần lưu ư một số điều sau đây:

   -Ngày13/5/2009 là hạn kỳ chót để các nước ven biển nộp hồ sơ mở rộng thềm lục điạ đến tối đa 350 hải lư theo Luật Biển LHQ, không phải là ngày chót để xác định Vùng Đặc Quyền Kinh Tế 200 hải lư.

   -Việc Hà Nội bỏ phí suốt 10 năm [từ 13/5/1999 đến 7/5/2009] và chỉ c̣n vài ngày là hết hạn mới nộp 2 hồ sơ là một dấu hiệu cần phải lưu ư.

   -Ai cũng biết hiện nay Đảng CSVN hoàn toàn lệ thuộc vào Đảng CSTH; do đó nếu không có sự đồng ư hay dàn dựng của Bắc Kinh th́ Hà Nội không khi nào dám nộp hồ sơ.

   -Trước khi Uỷ Ban nhóm họp, các nước hội viên Luật Biển LHQ đă họp trước, cũng tại trụ sở LHQ, để thông qua chương tŕnh khóa họp của Uỷ Ban.

   -Khoá họp 24 này của Ủy Ban sẽ không thể giải quyết hết hồ sơ mới cũ được v́ hồ sơ của Russia nộp từ 20/10/2001 mà ngày 1/6/2009 mới được giải quyết.

2. Theo Luật Biển LHQ, Vùng Đặc Quyền Kinh Tế rộng 200 hải lư thuộc chủ quyền tuyệt đối và đương nhiên của các nước ven biển, không cần phải đăng kư.

   -Nếu xảy ra tranh chấp ở vùng này th́ có thể nhờ Toà Án Quốc Tế Hamburg hay Toà Án Quốc Tế La Hague phân xử hoặc đưa ra trước Hội Đồng Bảo An LHQ nếu có xâm lăng.

   -Hà Nội kư Luật Biển ngày 10/12/1982, phê chuẩn ngày 25/7/1994, tức rất sớm tất biết rơ như trên. Khi Trung Cộng lấn chiếm Vùng Đặc Quyền Kinh Tế 200 hải lư, bắn giết ngư dân VN hành nghề hợp pháp trong vùng và xâm lăng Trường Sa, Hà Nội có trách nhiệm phải đưa vấn đề ra trước các cơ quan thẩm quyền để phân xử, trừ khi đă thỏa thuận ngầm với Bắc Kinh nên Trung Cộng mới lộng hành như vậy.

   -Luật Biển LHQ rất phức tạp, ngoài 320 điều khoản, 9 phụ bản, c̣n có những thoả thuận riêng. Nếu việc ǵ Luật Biển LHQ không qui định th́ giải quyết theo tập tục và qui tắc tổng quát của Luật Quốc Tế.

   -Điều 8 Luật Biển LHQ qui định:

a. Đường căn-bản [baseline] là lằn nước thuỷ triều xuống thấp nhất tại các nước ven biển

b. Nội-hải [historic water] là vùng biển bên trong đường căn-bản

c. Lănh-hải [territorial sea] là vùng biển ngoài đường căn-bản, xưa là 3 hải lư, nay thường là 12 hải lư

d. Hải-phận [contiguous sea] là vùng biển 12 hải lư bên ngoài lănh-hải

e. Vùng đặc quyền kinh tế [exclusive economic zone] rộng 200 hải lư, tính từ đường căn-bản ra khơi

f. Thềm lục điạ [continental shelf] rộng 200 hải lư, cũng tính từ đường căn-bản ra khơi, có thể mở rộng đến 350 hải lư và gọi là Thềm Lục Địa mở rộng [extended continental shelf].

3. Biển Đông rộng gần 1 triệu 100 ngàn hải lư vuông, Vịnh Bắc Việt chiếm hơn 1/3 diện tích Biển Đông, VN nằm sát bên Biển Đông và bờ biển dài 3,260 km, trải qua 13 vĩ độ, từ vĩ độ 21 N đến vĩ độ 8 N.

   -V́ bờ biển VN rất dài [so với diện tích đất liền] nên Vùng Đặc Quyền Kinh Tế 200 hải lư của VN có  diện tích gần gấp 2 diện tích 329,600 km2 đất liền. Nay nếu Thềm Lục Địa VN mở rộng ra 350 hải lư theo qui định của Luật Biển LHQ th́ lănh hải VN rộng gấp 4 lần đất liền và bao gồm luôn Hoàng Sa Trường Sa v́ khi đó hai quần đảo này nằm gần trọn trên Thềm Lục Địa “mở rộng” 350 hải lư của VN và lănh thổ và lănh hải VN sẽ rộng tới 1, 329,560 km2.

   -Nhóm đảo Hoàng Sa, Trường Sa chỉ có một phần nhỏ nằm cách bờ biển VN 200 hải lư, hầu hết các đảo của hai nhóm này đều nằm rất xa ngoài khơi, có nơi cách bờ biển VN tới 400 hải lư. Hà Nội biết  rơ điều này nên khi xác nhận thềm lục điạ VN 200 hải lư và không xin mở rộng ra 350 hải lư là phải có ư đồ? Hay đă đến lúc Bắc Kinh tăng tốc chiếm VN và buộc Hà Nội phải công khai hóa những ǵ đảng CSVN và CSTH đă thoả thuận ngầm từ lâu, như hiệp ước phân định lại Vịnh Bắc Việt 25/12/2000?

Hà Nội dâng Trường Sa cho Bắc Kinh qua hồ sơ nộp với Mă Lai ngày 6/5/2009?

1. Như đă nói trên, ngày 13/5/2009 là ngày chót để nộp hồ sơ mở rộng thềm lục địa đến tối đa 350 hải lư theo qui định của Luật Biển LHQ, không phải ngày xác định Vùng Đặc Quyền Kinh Tế 200 hải lư. Nhưng hồ sơ ngày 6/5/2009 của Hà Nội không những không xin mở rộng thềm lục địa cho VN đến tối đa 350 hải lư mà VN có đầy đủ điều kiện để được hưởng mà chỉ xác nhận lănh hải VN có 200 hải lư và bản đồ kỹ thuật kèm theo hồ sơ th́ cố ư gạt hầu như toàn bộ nhóm đảo Trường Sa ra ngoài lănh hải VN.

 

                                         

  [Bản đồ  trong hồ sơ ngày 6/5/2009 của Hà Nội, đường ranh 200 hải lư của VN đụng tới Trường Sa]

2. Trung Cộng kư Luật Biển LHQ ngày 10/12/1982 và phê chuẩn ngày 7/6/1996 nhưng chưa bao giờ tôn trọng Luật Biển LHQ. Hơn thế nữai, Trung Cộng c̣n tự ban hành Luật Biển riêng và tự công bố bản đồ lưỡi ḅ chiếm 80% Biển Đông, bất chấp các qui định của Luật Biển LHQ.                              

   -Bản đồ lưỡi ḅ lấn sát bờ biển VN, có nơi chỉ cách bờ biển VN 40 hải lư [tức vi phạm trầm trọng Vùng Đặc Quyền Kinh Tế 200 hải lư của VN], chạy dài xuống tận đảo Natuma, Nam Dương, tức cách xa lục địa Trung Hoa khoảng 1000 hải lư, trong lúc Luật Biển LHQ qui định Thềm Lục Địa mở rộng không được vượt qúa 350 hải lư.

                                      

   -Trung Cộng chỉ cho đại diện tại LHQ gửi công hàm ngày 8/5/2009 cho Tổng Thư Kư LHQ để yêu cầu Ủy Ban không cứu xét hồ sơ của VN-Mă Lai. Kèm với công hàm là bản đồ lưỡi ḅ mà Trung Cộng biết rằng Uỷ Ban sẽ không thể nào chấp thuận được v́ nó không theo một qui tắc nào của Luật Biển LHQ cả.

 

3. Uỷ Ban Thềm Lục Địa LHQ không có thẩm quyền phân định ranh giới biển. Nguyên tắc của Uỷ Ban là khuyến khích các nước liên hệ tự giải quyết việc phân ranh với nhau. Nếu có tranh chấp giữa 2 hay nhiều nước th́ Uỷ Ban có thể không chấp thuận hồ sơ của cả 2 hay nhiều nước.  

   -Điều cần lưu ư ở đây là đường ranh giới 200 hải lư của Mă Lai mới thực sự lấn chiếm nhiều đảo của Trường Sa. Nên Trung Cộng phản đối hồ sơ 6/5/2009 là nhắm vào Mă Lai hơn là VN v́ đường ranh 200 hải lư VN không ảnh hưởng bao nhiêu đến Trường Sa nếu không muốn nói là không ảnh hưởng ǵ đến nhóm đảo này v́ hầu hết các đảo của Trường Sa đều nằm ngoài ranh giới 200 hải lư của VN. Trung Cộng phản đối ồn ào là để che đậy âm mưu “công khai hoá” và “hợp pháp hoá” hiệp ước 25/12/2000 trong đó Hà Nội đă lén lút dâng cho Bắc Kinh 20 ngàn km2 vùng Vịnh Bắc Việt và nay dâng Hoàng Sa qua hồ sơ ngày 7/5/2009.

   -Nới khác đi, hồ sơ 6/5/2009 chỉ là “diện” và hồ sơ 7/5/2009 mới là “điểm” v́ hồ sơ này liên quan tới Vịnh Bắc Việt và quần đảo Hoàng Sa và nhằm mục đích công khai hoá và hợp pháp hóa những ǵ đă dấu kín nhiều năm kể từ khi kư hiệp ước về Vịnh Bắc Việt 25/12/2000.

 

4. Tuy nhiên, vấn đề chưa hẳn kết thúc ở đây. Các nước liên hệ c̣n quyền đưa vấn đề ra trước Toà Án Quốc Tế chuyên về biển ở Hamburg, Đức-quốc hay Toà Án Quốc Tế ở La Hague, Hoà Lan.

    Đưa ra Toà Án Quốc Tế La Hague [1945] th́ cũng như không, chẳng giải quyết được ǵ v́ theo quy chế của Toà này th́ hai bên tranh tụng có quyền “không thi hành” phán quyết của Toà cho dù chính họ nhờ Toà phân xử. Trái lại, phán quyết của Toà Án Quốc Tế Hamburg [1996] chuyên về Luật Biển th́ có gía trị chung quyết và các bên tranh tụng phải chấp hành.

    Do đó, vấn đề là liệu Hà Nội có dám tiến tới hay không? Điều này rất khó xảy ra lúc này v́ ai cũng biết đảng CSVN hiện nay hoàn toàn lệ thuộc đảng CSTH. Bắc Kinh bảo sao th́ Hà Nội cúi đầu làm vậy.

 

Hà Nội âm mưu hợp pháp hoá hiệp ước 25/12/2000 qua hồ sơ ngày 7/5/2009

1. Ngày 7/5/2009, Hà Nội nộp Ủy Ban Phân Ranh Thềm Lục Địa hồ sơ liên quan đến phía Bắc Biển Đông, tức liên quan đến Vịnh Bắc Việt và quần đảo Hoàng Sa. Tuy lời mở đầu hồ sơ này có nói Hoàng Sa và Trường Sa là của VN và nói tới việc mở rộng Thềm Lục Điạ VN ra ngoài 200 hải lư nhưng phần

                                                                                           

                                                                                                                                  

 Bản đồ trong hồ sơ 7/5/09 của Hà Nội-H́nh tam giác ngược đỉnh nhọn ở dưới, đáy nằm nghiêng ở trên, vĩ tuyến 15N067

chính văn bản cần xác định chủ quyền VN đối với Hoàng Sa hiện do Trung Cộng chiếm giữ bất hợp pháp bằng vơ lực, vi phạm Luật Biển LHQ, th́ Hà Nội không nói ǵ tới Hoàng Sa nữa và bản đồ kèm theo hồ sơ th́ rơ ràng là Hà Nội cố ư gạt Hoàng Sa ra ngoài đường ranh 200 hải lư của VN.

   -Đường ranh giới 200 hải lư của VN màu đỏ [trong bản đồ của hồ sơ 7/5/2009 trên đây] đi từ vĩ độ 10 N lên phía Bắc, khi gặp quần đảo Hoàng Sa ở vĩ độ 15 N th́ đột ngột dừng lại.

   -Đường vẽ trong bản đồ trên không chính xác. Hà Nội cố ư vẽ đường ranh 200 hải lư này nhô lên vĩ độ 16 N, trong lúc hồ sơ ghi rơ là đường ranh này dừng lại ở vĩ độ 15 N 067, tức chỉ nhô khỏi vĩ độ 15 N một chút, chứ không thể tới vĩ độ 16 N được. Đường ranh 200 hải lư của VN này dừng lại khi gặp Hoàng Sa..

   -Vùng biển Hà Nội xin mở rộng ra ngoài 200 hải lư trong hồ sơ 7/5/2009 có h́nh tam giác ngược, đỉnh rất nhọn phía dưới và ở vĩ tuyến 10 N 798, cạnh đáy hơi nghiêng nằm chếch ngang phía trên, cạnh phía Đông có đỉnh ở vĩ tuyến 15 N 067, và cạnh phía Tây với đỉnh ở vĩ tuyến khoảng 15 N 200.

   -Điều cần lưu ư là đỉnh h́nh tam giác ngược này nằm ở vĩ tuyến 10 N 798, cách rất xa quần đảo Trường Sa như cố tránh đụng nhóm đảo Trường Sa. Cạnh đáy nằm chếch ngang ở phía trên khi chớm đụng nhóm đảo Hoàng Sa là dừng lại ở vĩ tuyến 15 N 067, trong khi nhóm đảo Hoàng sa chỉ nằm từ vĩ độ 15 N này lên hết vĩ độ 17 N, tức cố ư gạt cả Hoàng Sa lẫn Trường Sa ra ngoài vùng biển h́nh tam giác ngược mà Hà Nội nói là xin mở rộng cho VN.

   -Nói khác đi, vùng biển Hà Nội xin mở rộng ngoài 200 hải lư mang h́nh tam giác ngược chỉ là một vùng nước biển, dưới cố ư tránh đụng Trường Sa, trên cố né chạm Hoàng Sa, tức chẳng ảnh hưởng ǵ tới phần chính của hai quần đảo này hay có đụng chạm đôi chút đến quần đảo Trường Sa th́ cũng chỉ là một vài đụn hay đá không giá trị bao nhiêu.

   Tóm lại, tuy lời mở đầu hồ sơ 7/5/2009 có nói Hoàng Sa Trường Sa thuộc chủ quyền của VN nhưng phần chính hồ sơ th́ lờ đi và đường ranh giới 200 hải lư th́ gạt Hoàng Sa ra ngoài Thềm Lục Điạ VN 200 hải lư với mưu toan xác định Hoàng Sa và Vịnh Bắc Việt đă được giải quyết qua hiệp ước lén lút phân định lại Vịnh Bắc Việt ngày 25/12/2000.

2. Hiệp ước phân định lại Vịnh Bắc Việt giữa Đảng CSVN và Đảng CSTH kư ngày 25/12/2000, cho đến nay vẫn được dấu kín nhưng dư luận đă ầm ĩ từ trong nước ra hải ngoại việc VN mất trên 11 ngàn km2 vùng Vịnh Bắc Việt. Đến khi 1 bản đồ trong hơ sơ mật của Hà Nội bị phát hiện th́ mọi ngưới mới hay Hà Nội đă hiến cho Bắc Kinh tới 20 ngàn km2 Vịnh Bắc Việt, không phải chỉ 11 ngàn km2.

   Trong số 21 điểm qui định trong bản đồ đính kèm hiệp ước 25/12/2000 [dưới đây], ngoại trừ điểm 1 nằm ở vĩ tuyến 21 độ Bắc, tức cửa sông Bắc Luân ở ranh giới tỉnh Móng Caí/VN và tỉnh Quảng Đông/TH, các điểm mốc từ số 2 đến số 21 đều lấn sâu vào bờ biển VN. Như điểm mốc 17 cách bờ biển VN 44 hải lư và cách Hải Nam 73 hải lư; tức sự phân chia vùng biển không đồng đều như Luật Biển qui định mà phía TH vượt trội phía VN tới 29 hải lư.

                                                

                     [Bản đồ Hà Nội trong hiệp-ước Phân Định lại Vịnh Bắc Việt 25/12/2000]

   Theo các nhà nghiên cứu và giới hiểu biết vấn đề th́ Hà Nội đă để cho Bắc Kinh lấy bằng hết vùng thủy tra thạch cửa sông Hồng VN, nơi có tiềm năng dầu khí.

3. Trước dư luận lên án đảng CSVN lén lút dâng biển cho đảng CSTH ngày càng dữ dội, ngày 28/1/2002 Lê Công Phụng -Thứ Trưởng Ngoại Giao và Trưởng Ban đàm phán về biên giới và phân định lại Vịnh Bắc Việt, lên tiếng thanh minh th́ lại lộ ra chẳng những Đảng CSVN đă bán nước cho Đảng CSTH từ lâu rồi mà chính Phụng cũng dối gạt dân chúng về cả Luật Biển LHQ.  

   Theo lời Phụng th́ chính TBT Đỗ Mười [năm 1993] và TBT Lê Khả Phiêu [1997] đă sang Bắc Kinh để “thoả thuận các nguyên tắc căn bản về biên giới và lănh hải” với TBT Giang Trạch Dân. Phụng c̣n dám dối gạt rằng y đă “căn cứ vào các qui định của Luật Biển LHQ và các nguyên tắc quốc tế và tập quán” trong lúc đàm phán với Bắc Kinh. Sự thực trái ngược hẳn lời Phụng tuyên bố và sau đây là vài thí dụ:

   -Theo Luật Biển LHQ, nếu 2 bên không thỏa thuận được với nhau th́ phân chia lănh hải theo “đường trung tuyến” [median line]. Đường trung tuyến trong trường hợp này là đường giữa đảo Bạch Long Vị của VN và đảo Hải Nam của TH; khoảng cách phải bằng nhau giữa 2 đảo này. Nhưng Phụng đă bất chấp điều luật này và chấp thuận đường phân chia cách Bạch Long Vĩ 15 hải lư và cách Hải Nam 55 hải lư, tức là phiá TH vượt trội phía VN 40 hải lư. Luật Biển LHQ cũng qui định đường trung tuyến phải chạy giữa 2 đường bờ biển hay giữa 2 giữa 2 đảo; Phụng đă bất chấp qui định này và chấp thuận đường truong tuyến giữa đảo Hải Nam với bờ biển VN, hy sinh luôn đảo Bạch Long Vĩ của VN.

   -Toà Án Quốc Tế, án lệ Lybia vs. Malta [1985], đă phán quyết đảo dù lớn đến đâu cũng không b́nh đẳng với lục địa được và không cho đảo Malta được có lănh hải bằng lục địa Lybia. Phụng đảo ngược Án Lệ Lybia khi cho đảo Hải Nam có lănh hải hơn hẳn lục địa VN.

   Theo giới am hiểu vấn đề th́ cả Hà Nội lẫn Bắc Kinh đều không có một lư do nào để phân định lại Vịnh Bắc Việt. Hiệp ước Constans kư kết tại Bắc Kinh ngày 16/6/1887 giữa đại diện Pháp [đô hộ VN lúc đó] và đại diện nhà Thanh [đô hộ TH] vẫn c̣n hiệu lực và phù hợp với Luật Biển LHQ mà Hà Nội và Bắc Kinh đều đă kư kết. Ngày 12/11/1982, chính Hà Nội đă công bố lănh hải VN vùng Vịnh Bắc Việt phải theo hiệp ước 16/6/1887, tức 63% diện tích Vịnh Bắc Việt thuộc về VN. Bắc Kinh không chịu, buộc Hà Nội phải phân định lại vùng này và đảng CSVN đă cúi đầu khuất phục và lén lút kư hiệp ước 25/12/2000.

   Hậu qủa của hiệp ước 25/12/2000 là VN đi từ 63% diện tích cũ xuống c̣n 53%. Thực tế c̣n bi đát hơn nữa: Trung Hoa chiếm tới 55% và VN 45% là tối đa, tức VN mất 20% hay khoảng 20 ngàn km2 vùng Vịnh Bắc Việt và quần đảo Hoàng Sa vào tay Trung Cộng qua việc phân định lại Vịnh Bắc Việt. V́ mất mát quá nhiều như thế nên Hà Nội đă dấu kín hiệp ước suốt bao năm qua.

Đôi ḍng kết  luận

1. Với sự tiếp tay đắc lực của đảng CSVN, Bắc Kinh đang từng bước chiếm VN mà không cần phải động binh vừa hao người tốn của lại bị thế giới xúm vào lên án. Sau việc cho nhập cảnh không cần chiếu khán, đảng CSVN đă rước Trung Cộng vào ngồi ngay trên “mái nhà” VN giả danh khai thác bauxite bất chấp sự phản đối quyết liệt của người dân. Nay, lợi dụng việc xin mở rộng Thềm Lục Địa, đảng CSVN mưu toan dâng Trường Sa, Hoàng Sa và Vịnh Bắc Việt tức “nền nhà” VN cho Bắc Kinh qua hai hồ sơ nộp LHQ ngày 6 và 7/5/2009.  .

2. Đất nước đă đến bờ vực thẳm! Bắc Kinh đang chiếm VN bằng “diễn tiến hoà b́nh” với sự đồng loă công khai của Hà Nội và với đà này th́ VN sẽ lâm vào t́nh trạng Tân Cương và Tây Tạng một ngày không xa. Xin chớ nghĩ rằng VN từng bị ngàn năm Bắc-thuộc mà vẫn vùng lên giáng cho quân xâm lược những đ̣n chí tử v́ kẻ thù ngày nay thâm độc và tàn ác gấp ngàn lần; nh́n gương Tây Tạng và Tân Cương th́ rơ. Và cũng đừng ngây thơ mà trông chờ, tin tưởng vào bất cứ ai v́ chén đắng 30/4/1975 c̣n nguyên trước mặt.

 

3. Ngoại xâm đang ngang nhiên cấu kết với nội xâm và đang tăng tốc để thực hiện những bước cuối cùng chiếm trọn VN. Nếu đồng bào quốc nội không mau tỉnh giấc để nhận ra t́nh huống vô cùng nguy hiểm của chính ḿnh, người thân và dân tộc mà can đảm nhất loạt đứng lên th́ rồi đây sẽ rơi vào số phận đáng thương người Tây Tạng và Tân Cương! Nếu đồng hương hải ngoại không gạt bỏ tị hiềm phe phái, vô t́nh hay cố ư lôi kéo mọi người vào những việc làm tŕnh diễn hay chưa cần thiết và ngoảnh mặt làm ngơ trước t́nh thế cực kỳ mong manh của đất nước và dân tộc hiện nay th́ sẽ phải trả giá với lương tâm và với lịch sử một ngày không xa!

Ls Nguyễn Thành

Coordinator, “Justice & Peace Committeee for Paracel & Spratly Islands of Vietnam”

Tài liệu tham khảo:

-United Nations Convention on the Law of the Sea of 10 December 1982

-Joint Submission by Malaysia & VN- in the So.part of the So.China Sea and VN – in No. Area

-Vũ Hữu San, Địa Lư Biển Đông với HS-TS, 2007;

-Nguyễn Thành, Đưa Việt Cộng ra trước LHQ, Toà Án các Quốc Gia và Toà Án H́nh Sự Quốc Tế 2002?, tạp chí Tiếng Vang, Sacramento, Hoa Kỳ, số tháng 5 và tháng 6/2002.

Chú thích:

[1] 8 hồ sơ của Russia; Brazil; Australia; Ireland; New Zealand; hồ sơ chung của France, Ireland, Spain, United Kingdom; Norway; Mexico. [Hồ sơ về thềm lục địa của cựu Thủ Tướng VNCH Nguyễn Bá Cẩn không thấy liệt kê trong số 51 hồ sơ này].

[2] Nguyên văn điều 76 Luật Biển LHQ: “An Exclusive Economic Zone extends for 200 nautical miles [370km] beyond the baselines of the territorial sea, thus it includes the territorial sea and its contiguous zone. A coastal nation has control of all economic resources within its EEZ, including fishing, mining, oil exploration, and any pollution of those resources. However, it can’t regulate or prohibit passage or loitering above, on, or under the surface of the sea, whether innocent or belligerent, withinthat portion of its EEZ beyond its territorial sea.”

[3] Toà Án Quốc Tế chuyên về Luật Biển [International Tribunal for the Law of the Sea = ITLOS] do Luật Biển LHQ 1982 thiết lập, hoạt động từ năm 1996, trụ sở ở Hamburg, Đức, có quyền xét xử tranh chấp giữa các hội viên của Luật Biển LHQ và độc lập với LHQ hơn là Toà Án Quốc Tế La Hague.

    Toà Án Quốc Tế [International Court of Justice=ICJ] La Hague, Hoà Lan, thiết lập năm 1945 bởi LHQ. Đến nay, đă 54 năm nhưng Toà này chỉ xét xử được 144 vụ v́ quá lệ thuộc vào LHQ và nhất là “bất lực.”

[4] Nguyên văn điều 77 Luật Biển: “The continental shelf of a coast al nation extends out to the outer edge of the continental margin but at least 200 nautical miles from the baselines of the territorial sea margin does not stretch that far. The outer limit of a country’s continental shelf shall not stretch beyond 350 nautical miles of the baseline, or beyond 100 miles nautical miles from the 2,500 meter isobath.

------------------------------------------------------------------------------------------------------------------  

 

HAI CHIẾN DỊCH TRUYỀN THÔNG CỦA ĐẾ QUỐC ĐẠI HÁN :

 

TRỊNH H̉A KHÁM PHÁ MỸ CHÂU NĂM 1421

 

 VÀ CHIẾM HOÀNG SA TRƯỜNG SA NĂM 1413

 

              Luật Sư Nguyễn Hữu Thống

 

Tháng 5-2008 trên tạp chí Duyệt Lại Nền Kinh Tế Tại Viễn Đông (Far Eastern Economic Review), học  giả Micheal A. Ledeen trong Viện Nghiên Cứu Chính Sách Hoa Kỳ đă tố giác chính sách bá quyền của Trung Quốc hiện nay là Chủ Nghĩa Phát Xít Cổ Điển (Beijing Embraces Classical Fascism).

Thay v́ tiếp thu chế độ đa nguyên, đa đảng, Trung Quốc càng ngày càng trở nên giáo điều và bảo thủ. Cũng như tại Ư 50 năm sau khi chế độ Phát Xít sụp đổ, Nhà Nước Ư vẫn giữ chế độ độc tài và vẫn đàn áp chính trị. Để biện minh cho chế độ họ nêu lên sự vinh quang của dân tộc Ư thời Đế Quốc La Mă.

Ngày nay Bắc Kinh cũng đề xướng “Dân Tộc Hán Vĩ Đại” để giữ vững quyền lực chính trị hầu phục hồi Đế Quốc Đại Hán. Với “tứ hiện đại hóa” Trung Quốc đă biểu lộ tính hiếu chiến trong chính sách bành trướng về kinh tế và lănh thổ. Họ phóng kim ngân thu nhân tâm, vận dụng truyền thông để giành cảm t́nh và hâm mộ quốc tế, kỳ vọng các quốc gia trên thế giới sẽ phải khâm phục và mặc nhiên chấp thuận để họ thôn tính các vùng lănh thổ và hải đảo tại Á Châu Thái B́nh Dương.

Dư âm Đế Quốc Đại Hán được thể hiện mới đây trong chiến dịch phô trương tuyên truyền rằng Đô Đốc Thái Giám Trịnh Ḥa đă khám phá Mỹ Châu năm 1421, trước Christopher Columbus 71 năm (năm1492).  So với Vasco Da Gama là người đă khám phá Mũi Hảo Vọng và đi xuyên 3 đại dương, từ Đại Tây Dương qua Ấn Độ Dương đến Thái B́nh Dương (năm 1498), Trịnh Ḥa đă thực hiện cuộc hành tŕnh xuyên 3 Đại Dương năm 1421, trước Vasco Da Gama 77 năm.

Đây là một chiến dịch tuyên truyền mạo nhận thành tích để phô trương thanh thế.

Tuy nhiên sự mạo nhận này không được lịch sử xác nhận.

Theo chính sử Trung Quốc, đặc biệt với cuốn “Lịch Sử Trung Quốc Thời Trung Cổ” do Hàn Lâm Viện Trung Quốc xuất bản tại Đài Bắc năm 1978, học giả Hsieh Chiao-Min nhận định về   cuộc Thám Hiểm của  Trung Hoa tại Đại Dương như sau:

Suốt chiều dài lịch sử, về sự phát triển văn hóa và khoa học, dân tộc Trung Hoa không tha thiết đến đại dương. Theo những tài liệu lịch sử chính thống, thản hoặc nhà cầm quyền Trung Hoa cũng gửi những đoàn thám hiểm đến Nhật Bản trong các thế kỷ thứ ba và thứ hai Trước Công Nguyên, và tại Đông Nam Á, Ấn Độ và Phi Châu trong thế kỷ 15. Điểm rơ nét nhất là tại Thái B́nh Dương có rất ít, nếu không nói là không có, những vụ xâm nhập quy mô của Trung Quốc” suốt chiều dài lịch sử”. (1)

Đặc biệt trong thế kỷ 15, dưới đời Minh Thành Tổ (Vĩnh Lạc) và Minh Tuyên Tông (Tuyên Đức), Đô Đốc Thái Giám Trịnh Ḥa đă 7 lần thám hiểm Tây Dương (Ấn Độ Dương). Và trong 28 năm, từ 1405 đến 1433, đă viếng thăm 37 quốc gia duyên hải đến tận Ba Tư, Biển Hồng Hải phía tây bắc và đông ngạn Phi Châu phía cực tây.(2)

 Trong lịch sử và văn học sử Trung Quốc Trịnh Ḥa được tuyên dương là anh hùng khai phá đại dương. Tuy nhiên những chi tiết và những thành quả trong chiến dịch Thất Hạ Tây Dương đă không được ghi chép đồng nhất, kể cả từ ngày tháng khởi hành đến những tin tức thu lượm được trong các chuyến hải hành.

Các tư liệu lịch sử viện dẫn gồm 3 loại:

a.             Những tài liệu chính thức trong Minh Sử.

b.            Những bia và đồ bản ghi chép sự việc được phát giác tại Phúc Kiến.

c.                         Ba cuốn sách do các thành viên  tham dự Chiến Dịch trước tác theo thứ tự thời gian là: Tây Dương Phiên Quốc Chí của Củng Trần năm 1434 (Hsi-Yang Fan Kuo Chih: Record of the Barbarian Countries in the Western  Ocean); Tinh Tra Thắng Lăm của Phi Tín năm 1436 (Hsing Cha Sheng Lan: Triumphant Vision of the Starring Raft);  và  Doanh Nhai Thắng Lăm của Mă Hoan năm 1451 (Ying Yai Sheng Lan: Triumphant Vision of the Boundless Ocean).

Ngoài ra c̣n cuốn Vũ Bị Chí của Mao Nguyên Nghi năm 1621, tường thuật về 7 chuyến Thất Hạ Tây Dương theo đó Trịnh Ḥa chỉ đi qua Biển Nam Hoa để khai phá Ấn Độ Dương. Thông thường mỗi cuộc hải tŕnh kéo dài 2 năm:

·                          Chuyến Đi Thứ Nhất (1405-1407) từ Thượng Hải, Phúc Kiến vượt Thái B́nh Dương đi Phi Luật Tân, Java, Sumatra (Nam Dương) đến Malacca, Tích Lan và Calicut tại bờ biển phía tây Ấn Độ.

·                          Chuyến Đi Thứ Hai (1407-1409) và Chuyến Đi Thứ Ba (1409 -1411) cũng không đi quá tây ngạn Ấn Độ như chuyến thứ nhất.

·                          Chuyến Đi Thứ Tư (1413-1415) tới Vịnh Ba Tư, Biển Hồng Hải và bờ biển Đông Phi Châu.

·                          Chuyến Đi Thứ Năm (1417-1419) đến điểm xa nhất phía cực tây tại đông ngạn Phi Châu phía nam đường xích đạo.

·                          Chuyến Đi Thứ Sáu (1421-1422), mà chiến dịch truyền thông hiện nay đang quảng bá, cho rằng  năm 1421 Trịnh Ḥa đă đi xuyên qua Thái B́nh Dương, Ấn Độ Dương và Đại Tây Dương và đă khám phá Mỹ Châu.

·                          Chuyến Đi Thứ Bảy là chuyến sau cùng. Sau khi Minh Thành Tổ mất, Trịnh Ḥa không c̣n được trọng đăi. Trong đời Minh Nhân Tông Chiến Dịch bị đ́nh chỉ. Măi đến năm 1431 dưới triều Minh Tuyên Tông, Trịnh Ḥa mới đi chuyến sau cùng (1431-1433). Đây là cuộc hải tŕnh xa nhất đến Biển Hồng Hải phía tây bắc, và bờ biển Đông Phi Châu phía tây nam.

Điều đáng lưu ư là, theo cuốn Lịch Sử Trung Quốc Thời Trung Cổ dẫn thượng, trong 7 chuyến đi của Trịnh Ḥa, Chuyến Đi Thứ Sáu là chuyến đi ngắn nhất:  từ tháng 2-1421 đến tháng 9-1421. Đặc biệt trong chuyến này Trịnh Ḥa chỉ đi từ Phúc Kiến đến Sumatra (Nam Dương). Kể từ đó hai sĩ quan tùy viên của Trịnh Ḥa là Yang Ching và Hung Pao đứng ra điều khiển cuộc hải tŕnh. (Hsieh Chiao-Min, Trịnh Ḥa Khám Phá Đại Dương,  sách đă dẫn, các trang 290-292) (3)

Như vậy theo chính sử Trung Quốc, trong 7 chuyến công du, Trịnh Ḥa không đến Đại Tây Dương mà chỉ đi qua Thái B́nh Dương (Biển Nam Hoa) và Ấn Độ Dương hay Tây Dương (phía tây Trung Quốc được coi là trung tâm thế giới). 

Tổng kết lại, không có việc trong thế kỷ 15 Trịnh Ḥa đă đi xuyên qua 3 đại dương (Thái B́nh Dương, Ấn Độ Dương và Đại Tây Dương), và đă đi qua 3 châu (Á, Phi và Âu) để khám phá Mỹ Châu năm 1421. 

Ngay từ đời nhà Minh, chiến dịch Thất Hạ Tây Dương đă bị các giới sĩ phu và quần thần phê phán là đă làm kiệt quệ kinh tế đất nước. Chiến Dịch được phát động đột ngột năm 1405 và đă kết thúc đột ngột năm 1433. Cho đến nay các sử gia Trung Quốc cũng chưa t́m ra lư do thực sự của những cuộc viễn chinh nặng phần tŕnh diễn này. 

 

Cùng với các nhà sử học Trung Quốc, các nhà khảo cứu về thám hiểm đại dương danh tiếng trên thế giới trong tập Bách Khoa Toàn Thư Anh Quốc đă viết: “Đầu thế kỷ 15, Minh Thành Tổ phát động chính sách thổ địa và hải dương tích cực, cử Đô Đốc Thái Giám Trịnh Ḥa phụ trách những cuộc hành tŕnh ngoại giao tại Đông Nam Á, Ấn Độ Dương, Vịnh Ba Tư, đến Đông Phi Châu là nơi xa nhất”. (4)

         Trong cuốn Tân Lịch Sử Trung Quốc, Giáo Sư John King Fairbank tại Đại Học Harvard vẽ bản đồ 7 cuộc hải tŕnh của Trịnh Ḥa xuất phát từ Phúc Kiến, ghé Đồ Bàn hay Trà Bàn (Chaban) thủ phủ Chiêm Thành, đến Java, Sumatra (Nam Dương), Colombo (Tích Lan), Calicut (Ấn Độ), Hormuz (Vịnh Ba Tư), Jiddah (Biển Hồng Hải) về phía tây bắc, rồi đến các hải cảng Magadishu và Malindi tại Đông Phi Châu phía cực tây. (John King Fairbank, China, A New History, Map 18: The Voyages of Zheng He, Harvard University Press, 1991, p. 133).

 

         Kết luận:

         Theo chính sử Trung Quốc Trịnh Ḥa không lai văng đến Đại Tây Dương và cũng  không khám phá Mỹ Châu năm 1421. Đây chỉ là một chiến dịch tuyên truyền lố lăng nhằm phô trương thanh thế bằng sự mạo nhận thành tích.

                          

 

NOTES

 

(1)         Throughout most of their long history of cultural and scientific development, the Chinese people have been but passively interested in the ocean. Historical records indicate that from time to time the Chinese authorities sent out maritime exploring expeditions, notably those to Japan as early as the second and third centuries B.C., and to Southeast Asia, India, and Africa during the fifteenth century. Apparently there have been few, if any, planned deep penetrations of the Pacific Ocean by the Chinese during their long history. Chiao-Min Hsieh. The Chinese Exploration to the Ocean, Chinese History Middle Ages: China Academy, Taipei, 1978, p. 287.

 

(2)         During a period of twenty-eight years, from 1405 to 1433, Admiral Cheng Ho led seven exploring expeditions into the Pacific and Indian Oceans and visited more than thirty-seven countries. The areas he visited include such distant places as Persia and the Red Sea in the northwest and  the east coast of Africa in the farthest west. The large  exploring expeditions that were to cross the South China Sea and explore the Indian Ocean were criticized by the court as poor to (an impoverishment of) the country. The guiding reasons for those expeditions are not generally known. Chiao-Min Hsieh, Ibid, p. 290-291.

 

(3)         The Sixth Voyage was the shortest of the seven, lasting from February 1421 to September 1421. During this expedition Cheng traveled only as far as Sumatra, the expedition from there on was led by his subordinate officers Yang Ching and Hung Pao. Chiao-Min Hsieh, Explorations by Cheng Ho, Ibid p.292.

 

(4)         Cheng Tsu was much more aggressive. He sent the eunuch admiral Cheng Ho on massive tribute-collecting voyages into Southeast Asia, the Indian Ocean, the Persian Gulf, and as far as East Africa: Encyclopedia Britannica, 1974, Volume 4, p.311.

 

 

 

TRỊNH H̉A CHIẾM HOÀNG SA TRƯỜNG SA NĂM 1413

        

         Năm 1405, sau vụ đảo chánh cướp ngôi của cháu ruột là Minh Huệ Đế, để làm lạc hướng dư luận, Minh Thành Tổ phát động chiến dịch Thất Hạ Tây Dương. Mặt khác, viện cớ khôi phục nhà Trần, Minh Thành Tổ, một kẻ soán đoạt, đă đem quân trừng phạt Hồ Quí Ly là kẻ soán đoạt khác. Trương Phụ và Mộc Thạnh truyền hịch loan báo việc quân Tầu sang Việt Nam  để tái lập ngôi vua nhà Trần, một triều đại vinh quang được toàn dân kính mến sau 3 trận đại thắng quân Mông Cổ. Với chiêu bài “cứu dân phạt tội” nhằm thu phục nhân tâm, quân nhà Minh đánh đâu được đó, quân nhà Hồ phần giă ngũ, phần qui hàng.

         Như ta đă biết, trong những năm 1405-1407, trong Chuyến Đi Thứ Nhất, với một hạm đội hùng mạnh trên 27 ngàn sĩ tốt và 300 chiếc tàu, Trịnh Ḥa không đổ bộ Việt Nam chỉ ghé Đồ Bàn trong cuộc hải tŕnh đến Nam Dương, Tích Lan và Ấn Độ. Lúc này, nếu có kế hoạch thôn tính Chiêm Thành, Minh Thành Tổ chỉ cần điều động hạm đội hùng mạnh của Trịnh Ḥa trong những năm 1405- 1407. Chứ không cần phải đợi đến năm 1413 trong Chuyến Đi Thứ Tư mới dùng thủ đoạn đồng minh giả hiệu để xâm chiếm Chiêm Thành cả trên lục địa lẫn ngoài hải phận.

         Vả lại về Chuyến Đi  Thứ Tư (1413- 1415) Minh Sử chỉ ghi Trịnh Ḥa đă đến Ấn Độ, Vịnh Ba Tư, Biển Hồng Hải và Đông Phi Châu. Chứ không ghi việc Trịnh Ḥa thôn tính Chiêm Thành năm 1413.

Luận điệu cho rằng Trịnh Ḥa đă chiếm Chiêm Thành và vùng hải phận trong đời nhà Minh (thế kỷ 15) hoàn toàn mâu thuẫn với Bản Chú Giải về Đảo Nam Uy và Quần Đảo Tây Sa  ngày 1-9-1951 của Chính Phủ Bắc Kinh, theo đó Trung Quốc đă chiếm Hoàng Sa Trường Sa từ đời nhà Tống (thế kỷ thứ 10 đến thế kỷ 13). (Notes on the Nanwei and Sisha Islands of 9-1-1951: People’s China, Foreign Language Press).

Chúng ta hăy duyệt lại lịch sử Trung Quốc từ đầu thế kỷ 15 đến giữa thế kỷ 20 để kiểm chứng việc sử sách không ghi Hoàng Sa Trường Sa đă thuộc chủ quyền lănh thổ của Trung Quốc kể từ năm 1413.

         Dưới đời nhà Minh (1368-1644)

1.                        Năm 111 Trước Công Nguyên Trung Quốc thôn tính nước Nam Việt và đổi tên thành Giao Chỉ Bộ. Vùng  Biển Đông Hải chạy từ bờ biển Bắc Việt đến Thanh Hóa, Nghệ An (Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam) và có tên là Giao Chỉ Dương. Trong cuốn Vũ Bị Chí của Mao Nguyên Nghi (năm 1621) có tấm bản đồ của Mao Khôn (ông nội tác giả), theo đó Biển Đông Hải được gọi là Giao Chỉ  Dương.

2.                          Các bản đồ Trịnh Ḥa Hạ Tây DươngTrịnh Ḥa Hàng Hải Đồ cũng không ghi các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (dưới các danh xưng Hán hóa Tây Sa và Nam Sa) trên các lộ tŕnh và hải đạo của Trịnh Ḥa 7 lần đi qua Biển Nam Hoa để khai phá Ấn Độ Dương.

3.                        Theo lịch sử Việt Nam trong hai thế kỷ 14 và 15 có sự giao chiến liên miên giữa Việt Nam và Chiêm Thành. Nếu quả thật nhà Minh đă chiếm đất Chiêm Thành năm 1413 trong Chuyến Đi Thứ Tư của Trịnh Ḥa, th́ lẽ tất nhiên các sử sách Trung Hoa, Việt Nam và Chiêm Thành đă phải ghi chép việc ấy. Theo sách Dư Địa Chí đời Hồng Đức, tới hậu bán thế kỷ 15 dưới đời vua Lê Thánh Tông năm 1471, Chiêm Thành đă là lănh thổ của Đại Việt gồm cả lục địa, hải phận và các hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Về việc này cuốn Minh Sử đă chép như sau: “Sứ thần Chiêm Thành nói: Cổ lai đất nước Chiêm có 27 xứ, 4 phủ, 7 châu, 22 huyện, nay vua An Nam lấy đi chỉ c̣n 5 xứ, từ Bang Đô Lang đến Chân Lạp mà thôi”. Lúc này vua Nhà Minh sai sứ sang yêu cầu vua Lê Thánh Tông trả lại đất cho Chiêm Thành nhưng Ngài không chịu. (Lư do là v́ Minh Chủ không trả đất Nam Việt đời Triệu Vũ Đế cho Đại Việt).

Những tài liệu lịch sử nói trên cho biết, từ thế kỷ 15, các đảo Hoàng Sa và Trường Sa nguyên là địa bàn ngư nghiệp của Chiêm Thành đă trở thành lănh thổ của Đại Việt.

Lịch sử cũng ghi rằng năm 1427 Lê Lợi đánh thắng quân Nhà Minh và giành lại chủ quyền độc lập đă bị Minh Thành Tổ tước đoạt từ 20 năm trước (1407).

4.                        Trong các cuốn Trù Hải Đồ Biên (1562) của Mao Khôn và Vũ Bị Chí (1621) của Mao Nguyên Nghi không thấy chỗ nào nói về việc các đội hải thuyền của Trịnh Ḥa đă đổ bộ và chiếm hữu quần đảo Hoàng Sa (Đại Hoàng Sa hay Vạn Lư Trường Sa) và Băi Macclesfield (Vạn Lư Thạch Đường mà Trung Quốc gọi là Trung Sa). Cũng không thấy ghi việc lập bia kỷ niệm như tại các địa điểm phái bộ Trịnh Ḥa đă đi qua tại Biển Nam Hoa và Ấn Độ Dương.

5.                        Sách Doanh Nhai Thắng Lăm của Mă Hoan tường tŕnh rằng, trong chuyến đi Nam Dương, Trịnh Ḥa có ghé Đồ Bàn hay Trà Bàn (Chaban) thủ phủ Chiêm Thành (thuộc địa phận Qui Nhơn). Và trong chuyến về có ghé Côn Lôn Dương (thuộc địa phận Trường Sa) và Ngoại La Sơn (tức Cù Lao Ré thuộc tỉnh Quảng Ngăi). Nhưng tuyệt nhiên không thấy nói đến việc lập bia kỷ niệm hay đặt tên hán hóa cho các hải đảo tại Hoàng Sa Trường Sa như Tây Sa, Nam Sa, Vĩnh Lạc, Tuyên Đức v…v….

Chính sử cho biết măi đến ngày 1-12-1947 Chính Phủ Trung Hoa Dân Quốc mới ban hành sắc lệnh hán hóa 102 đảo danh tại Hoàng Sa và Trường Sa. Và đến ngày 25-4-1983 Chính Phủ Bắc Kinh mới đặt tên hán hóa cho các hải đảo này.

Dưới đời nhà Thanh (1644-1911)

1.                        Dưới triều Thanh Đức Tông (hiệu Quang Tự), theo bản đồ Hoàng Thanh Nhất Thống Dư Địa Tổng Đồ ấn hành năm 1894, th́ đến cuối  thế kỷ 19,  lănh thổ của Trung Quốc chỉ chạy đến đảo Hải Nam là hết”.

2.                        Qua thế kỷ 20, trong thời gian Từ Hi Thái Hậu lâm triều, sự kiện này được xác nhận trong cuốn Trung Quốc Địa Lư Học Giáo Khoa Thư  năm 1906 với đoạn như sau: “Điểm cực Nam của Trung Quốc là bờ biển Châu Nhai thuộc quận Quỳnh Châu (Hải Nam) tại Vĩ Tuyến 18”. Các quận Châu Nhai và Đạm Nhĩ  thuộc đảo Hải Nam kéo dài từ Vĩ Tuyến 20 (ngang Thanh Hóa) đến Vĩ Tuyến 18 (ngang Nghệ Tĩnh). Trong khi đó quần đảo Hoàng Sa tọa lạc về phía nam, từ Vĩ Tuyến 17 đến Vĩ Tuyến 15 (Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngăi), và quần đảo Trường Sa tại các Vĩ Tuyến 12-8 (Cam Ranh - Cà Mâu).

3.                        Trong bản đồ Đại Thanh Đế Quốc tại vùng hải phận cũng không thấy vẽ các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, và cũng không thấy ghi các danh xưng hán hóa như Tây Sa, Nam Sa, Vĩnh Lạc hay Tuyên Đức.

4.                        Trong bộ Hải Quốc Đồ Kư, cuốn Hải Lục của Vương Bỉnh Nam (1820-1842) chép rằng quần đảo Hoàng Sa là biên thùy của Việt Nam: Vạn Lư Trường Sa (Hoàng Sa) là dải cát dài ngoài biển được dùng làm phên giậu che chắn mặt ngoài bờ cơi nước An Nam”.

5.                        Theo cuốn Tranh Chấp tại Biển Nam Hoa của học giả Marwyn  S. Samuels  “không có bằng chứng nào cho thấy nhà Thanh đă sát nhập các hải đảo [(Hoàng Sa Trường Sa] vào lănh thổ Trung Quốc”  (There is no evidence here that the Ch’ing State had in any sense absorbed the islands into the imperial domain. Marwyn  S. Samuels, Contest for the South China Sea: Methuen London, 1982, note 31, p.38).

6.                        Giống như Bản Đồ Mao Khôn trong cuốn Vũ Bị Chí của Mao Nguyên Nghi đời Nhà Minh, tập Địa Dư Chí  Tỉnh Quảng Đông được vua Thanh Thế Tông (Ung Chính) duyệt phê năm 1731 cũng không ghi các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc tỉnh Quảng Đông.

7.                        Trong bộ sách địa lư “Đại Thanh Nhất Thống Chí” do Quốc Sử Quán Trung Hoa soạn năm 1842 với lời tựa của vua Thanh Tuyên Tông (Đạo Quang) cũng không thấy ghi Thiên Lư Trường Sa hay Vạn Lư Trường Sa (Hoàng Sa) thuộc lănh thổ Trung Quốc.

8.                        Trong cuốn Hải Quốc Văn Kiến Lục của Trần Luân Quưnh (năm 1744), vùng hải phận của Việt Nam tại Biển Đông Hải được ghi là Việt Hải và Việt Dương.

9.                        Đặc biệt là cuốn Hải Ngoại Kỷ Sự của Thích Đại Sán xuất bản năm 1695 đời Khang Hi  cũng ghi nhận sự hành sử chủ quyền của Đại Việt trong việc chiếm hữu, kiểm soát và khai thác vùng Biển Đông Hải nơi tọa lạc các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

10.                     Trong hai năm 1895 và 1896 có vụ các cư dân đảo Hải Nam đến cướp đồng trên các tàu bị đắm tại Hoàng Sa, như tàu Bellona của Đức và tàu Imezi Maru của Nhật. Do sự khiếu nại của các công ty bảo hiểm, Chính Phủ Anh đă gửi văn thư phản kháng với nhà cầm quyền Quảng Châu. Để phúc đáp, Tổng  Đốc Lưỡng Quảng đă phủ nhận trách nhiệm viện lư do“Hoàng Sa không liên hệ ǵ đến Trung Quốc”, và chính quyền Quảng Châu không có bổn phận phải bảo vệ an ninh trật tự tại quần đảo này.

Thời Trung Hoa Dân Quốc và Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Quốc (thời gian từ 1912 đến 1954)

1.                        Thời Thế Chiến II, cuối thập niên 1930 Nhật Bản cấu kết với Đức Quốc Xă và Phát Xít Ư để phát động Chiến Tranh Thái B́nh Dương. Năm 1938 Nhật chiếm 3 đảo tại Hoàng Sa là Phú Lâm, Lincoln và Hữu Nhật. Qua năm sau, ngày 30-3-1939, Chính Phủ Đông Kinh ra Tuyên Cáo đ̣i chủ quyền lănh thổ tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ngày 21-4-1939, thay mặt Việt Nam, Chính Phủ Pháp đă gửi công hàm phản kháng hành động xâm lăng vơ trang của Nhật Bản tại Biển Đông Hải, đồng thời công bố chủ quyền lănh thổ của Việt Nam tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trong khi đó Chính Phủ Trùng Khánh đă không lên tiếng phản kháng, dầu rằng sự chiếm đóng Hoàng Sa của Nhật Bản đă trực tiếp đe dọa an ninh lănh thổ của Trung Hoa. Do thái độ thụ động này, Trung Quốc đă khước từ chủ quyền lănh thổ tại quần đảo Hoàng Sa.

2.                        Năm 1943 tại Hội Nghị Cairo, ba cường quốc đồng minh đại diện bởi Tổng Thống Hoa Kỳ Roosevelt, Thủ Tướng Anh Churchill và Tổng Thống Trung Hoa Dân Quốc Tưởng Giới Thạch đă kư Tuyên Cáo Cairo ngày 27-11-1943 theo đó sau khi đánh bại Nhật Bản, Đồng Minh sẽ giao hoàn cho Trung Quốc đảo Đài Loan và quần đảo Bành Hồ tại Thái B́nh Dương. Điều đáng  lưu ư là tại Hội Nghị Cairo 1943, Tổng Thống Tưởng Giới Thạch đă không đ̣i trao Hoàng Sa Trường Sa cho Trung Quốc và như vậy đă khước từ chủ quyền lănh thổ các quần đảo này.

3.                        Tại Hội Nghị Ḥa B́nh San Francisco 1951, để yểm trợ Bắc Kinh, Ngọai Trưởng Liên Sô Andrei Gromyko  đệ tŕnh Tu Chính Án yêu cầu Đại Hội trao hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc. Tuy nhiên Đại Hội đă bác bỏ đề nghị này với 46 phiếu chống và 3 phiếu thuận. Sau đó Trưởng Phái Đoàn Quốc Gia Việt Nam Trần Văn Hữu đă lên diễn đàn công bố chủ quyền lănh thổ của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa và không gặp sự chống đối nào.

Năm 1949 Trung Cộng đă chiếm lục địa Trung Hoa bằng chiến tranh vơ trang nên không được các Quốc Gia Đồng Minh thừa nhận. Do đó cả hai Chính Phủ Bắc Kinh và Đài Bắc đều không được mời tham dự Hội Nghị Ḥa B́nh San Francisco.

Trong khi đó, từ 1949, do Hiệp Định Elysee ngày 8-3-1949, Pháp đă trả chủ quyền độc lập và sự thống nhất quốc gia  cho Việt Nam. Với tư cách một quốc gia độc lập và thống nhất, Việt Nam được mời tham dự Hội Nghị Ḥa B́nh San Francisco 1951.

4.                        Hiệp Định Geneva ngày 20-7-1954 minh thị xác nhận các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền lănh thổ của Việt Nam.

Để giải quyết Chiến Tranh Đông Dương, Hội Nghị Geneva  1954 được triệu tập với sự tham dự của 9 quốc gia gồm Ngũ Cường Mỹ, Anh, Pháp, Liên Sô và Trung Quốc, cùng Ai Lao, Cao Miên và 2 nước Việt Nam là Quốc Gia Việt Nam (Miền Nam) và Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa (Miền Bắc). Hiệp Định Geneva ngày 20-7-1954 đă minh thị xác nhận chủ quyền của Việt Nam Cộng Ḥa (lúc này là Quốc Gia Việt Nam) tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Điều 4 Hiệp Định viết:

 Giới tuyến giữa Miền Bắc và Miền Nam Việt Nam (Vĩ Tuyến 17) kéo dài ra ngoài hải phận theo một đường thẳng góc với đường ven biển. Lực lượng Liên Hiệp Pháp (gồm có Quốc Gia Việt Nam, Pháp và đồng minh) phải rút khỏi tất cả các hải đảo tại phía Bắc giới tuyến (Vĩ Tuyến 17). Quân đội Nhân Dân Việt Nam (Bắc Việt) phải rút khỏi tất cả các hải đảo tọa lạc tại phía Nam giới tuyến” (Vĩ Tuyến 17) trong đó có các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa tọa lạc từ   Vĩ Tuyến 17 đến Vĩ Tuyến 8 ( từ Quảng Trị xuống Cà Mâu).

Ngoài ra chiếu Điều 12 Bản Tuyên Ngôn Sau Cùng ngày 21-7-1954:

“Các quốc gia tham dự Hội Nghị Geneva (trong đó có Trung Quốc) cam kết tôn trọng chủ quyền độc lập, nền thống nhất quốc gia và sự toàn vẹn lănh thổ của Việt Nam”. (Trung Quốc là một trong 9 quốc gia tham dự Hội Nghị Geneva 1954 với Anh Quốc và Liên Sô là đồng chủ tịch).

Như vậy từ các đời nhà Minh, nhà Thanh đến giữa thế kỷ 20 (năm 1954) dưới thời Trung Hoa Dân Quốc và Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Quốc, các sách sử địa Trung Hoa không có chỗ nào ghi chép rằng Minh Thành Tổ đă chiếm Hoàng Sa Trường Sa làm lănh thổ Trung Quốc năm 1413 sau khi Trịnh Ḥa thôn tính Chiêm Thành trong Chuyến Đi Thứ Tư của chiến dịch Thất Hạ Tây Dương.

Lịch sử chỉ ghi, từ hậu bán thế kỷ 20, trong những năm 1956, 1974, 1988 và 1992, Trung Quốc đă dùng chiến tranh vơ trang để xâm chiếm 13  đảo Hoàng Sa và một số đá, băi tại Trường Sa. Sự xâm chiếm này đi trái với Luật Tục Lệ Quốc Tế và Điều 2 Hiến Chương Liên Hiệp Quốc. Đặc biệt đă vi phạm thô bạo Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982 mà Trung Quốc đă kư tên tham gia. Đây là những hành vi bạo động vơ trang không có giá trị và hiệu lực pháp lư. V́ hành vi bạo hành, dầu kéo dài bao lâu, cũng không làm mất tính bạo hành của nó.

 

Kết luận:

 

         Về hai chiến dịch truyền thông cho rằng Trịnh Ḥa đă khám phá Mỹ Châu năm 1421, và đă chiếm hữu Hoàng Sa Trường Sa năm 1413, chúng ta chỉ có thể kết luận: Phải là người đại hán có đảm lược (to gan lớn mật) mới dám lấy những chuyện hoang đường vơng tưởng làm sự thật lịch sử.

 

                                     Luật Sư Nguyễn Hữu Thống

                                         (Tháng 8-2010)

 

------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

 

 

ÁNH SÁNG MỚI 2015 ONLINE 

TIN TỨC THỜI SỰ CHÍNH TRỊ - TÀI LIỆU TỔNG HỢP 14

 

www.anhsangmoi2015.com 

www.anhsangmoi2015.org 

 

Cơ quan ngôn luận của ĐẢNG CÁCH MẠNG B̀NH XĂ VIỆT

Chủ trương và Biên tập :  Lư Nguyễn Thiên Quư  ( Huyên Chương Quư )

 

-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------