Bản Cáo Trạng

Đảng Cộng Sản Và Nhà Nước Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Vi Phạm Nhân Quyền Có Tổ Chức Và Hệ Thống

 

Systematic Human Rights Violations
by the Communist Party
and the Socialist Republic of Vietnam

 

 

 

   

 

 

 

 

                                 

 

Bản Cáo Trạng đảng cộng sản và nhà nước CHXHCN

Việt Nam vi phạm nhân quyền có hệ thống

 

1. Phần mở đầu

 

“Chúng tôi, nhân dân các nước liên hiệp lại Quyết tâm:

Pḥng ngừa cho những thế hệ tương lai khỏi thảm hoạ chiến tranh đă hai lần trong đời chúng ta gây cho nhân loại đau thương không kể xiết;

Tuyên xưng một lần nữa niềm tin chúng tôi vào quyền căn bản của con người, vào nhân phẩm và giá trị của con người, vào quyền b́nh đẳng giữa nam nữ, vào quyền b́nh đẳng giữa các quốc gia dù lớn hay nhỏ

Tạo mọi điều kiện cần thiết để giữ ǵn công lư và tôn trọng những nghĩa vụ do những điều ước và các nguồn khác công pháp quốc tế đề ra ...”

 

Đạt tới sự hợp tác quốc tế nhằm giải quyết những vấn đề kinh tế, xă hội, văn hoá, hay nhân đạo, và phát huy, khuyến khích sự tôn trọng nhân quyền và những quyền tự do căn bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ hay tôn giáo.

 

Phần mở đầu và điều 1 của Hiến Chương Liên Hiệp Quốc cho thấy rơ mục đích việc thành lập Liên Hiệp Quốc nhằm phục vụ con người, nhằm ngăn ngừa những thế lực độc tài lợi dụng và biến con người thành công cụ phục vụ cho cơ chế độc tài đó. Phương pháp ngăn ngừa và khống chế sự phát triển các thế lực độc tài hữu hiệu nhất là phát huy quyền làm người, tinh thần làm chủ, tinh thần dấn thân trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia điều hành xă hội, điều hành quốc gia của mọi con người sống trên trái đất này.

 

„Tất cả mọi người sinh ra đều được tự do có nhân phẩm và các quyền như nhau. Họ đều được Tạo hoá ban cho lư trí và lương tâm và cần phải đối xử với nhau trong t́nh huynh đệ.“

 

Trong tinh thần này chúng tôi muốn đệ tŕnh một vài trường hợp tiêu biểu về luật pháp và chính sách của nhà nước Việt Nam dưới sự điều khiển của đảng cộng sản đă và đang được áp dụng tại Việt Nam. Những luật pháp, chính sách này tạo cơ hội cho việc vi phạm nhân quyền một cách tinh vi và có hệ thống. Nghĩa là những vi phạm nhân quyền nặng nề này được luật pháp, công an, quân đội bảo trợ…

 

2. Luật pháp CSVN vi phạm tự do ngôn luận, tự do báo chí và tự do thông tin

 

2.1. Tự do ngôn luận, tự do báo chí và tự do thông tin  theo Công Pháp Quốc Tế

 

Tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do báo chí và tự do thông tin là những quyền căn bản mọi người được hưởng và được bảo đảm thực thi không bị cản trở bởi bất cứ một thế lực đối kháng nào, được qui định ở điều 18 và 19 của Công Ước Quốc Tế các quyền Dân Sự và Chính Trị cũng như của Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền:

 

Điều 18: (CƯDSCT: Công Ước Quốc Tế những quyền Dân Sự và Chính Trị)        

1.      Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, tự do lương tâm và tự do tôn giáo. Quyền này bao gồm quyền tự do theo một tôn giáo hay tín ngưỡng và quyền tự do biểu thị tôn giáo hay tín ngưỡng qua sự thờ phụng, hành đạo, nghi lễ hay giảng dạy, hoặc riêng tư hoặc với người khác, tại nơi công cộng hay tại nhà riêng.

2.      Không ai bị cưỡng bách tước đoạt quyền tự do lựa chọn tôn giáo hay tín ngưỡng.

3.      Quyền tự do biểu thị tôn giáo hay tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn theo luật, v́ nhu cầu bảo vệ an toàn công cộng, trật tự công cộng, sức khỏe công cộng, đạo lư hay những quyền tự do căn bản của người khác.

4.      Các quốc gia hội viên kư kết Công Ước này cam kết tôn trọng quyền của cha mẹ hay người giám hộ trong việc giáo dục các con về tôn giáo hay đạo lư theo tín ngưỡng của họ.

Điều 19: (CƯDSCT)

1.      Mọi người đều có quyền giữ vững quan niệm mà không bị ai can thiệp.

2.      Mọi người đều có quyền tự do phát biểu quan điểm; quyền này bao gồm quyền tự do t́m kiếm, tiếp nhận, và phổ biến mọi tin tức và ư kiến bằng truyền khẩu, bút tự hay ấn phẩm, dưới h́nh thức nghệ thuật, hay bằng mọi phương tiện truyền thông khác, không kể biên giới quốc gia.

3.      Việc hành sử quyền tự do phát biểu quan điểm (ghi ở khoản 2 nói trên) đ̣i hỏi đương sự phải có những bổn phận và trách nhiệm đặc biệt. Quyền này chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật v́ nhu cầu:

a.      Tôn trọng những quyền tự do và thanh danh của người khác.

b.      Bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe công cộng hay đạo lư.

Điều 18 (TNQTNQ: Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền) Ai cũng có quyền tự do tư tưởng, tự do lương tâm và tự do tôn giáo; quyền này bao gồm cả quyền tự do thay đổi tôn giáo hay tín ngưỡng và quyền tự do biểu thị tôn giáo hay tín ngưỡng qua sự giảng dạy, hành đạo, thờ phụng và nghi lễ, hoặc riêng ḿnh hoặc với người khác, tại nơi công cộng hay tại nhà riêng.

 

Điều 19 (TNQTNQ) : Ai cũng có quyền tự do quan niệm và tự do phát biểu quan điểm; quyền này bao gồm quyền không bị ai can thiệp v́ những quan niệm của ḿnh, và quyền t́m kiếm, tiếp nhận cùng phổ biến tin tức và ư kiến bằng mọi phương tiện truyền thông không kể biên giới quốc gia.

 

Quyền tự do ngôn luận không những được bảo đảm cho từng cá nhân mà công dân c̣n có quyền bày tỏ, phổ biến, tư tưởng và quan điểm của ḿnh cho đại chúng mà không bị hạn chế bởi biên giới quốc gia ḿnh đang sinh sống bằng mọi phương tiện như truyền khẩu, ấn phẩm, phim, ảnh, tác phẩm nghệ thuật, truyền thanh, truyền h́nh,  truyền thông điện tử, Internet vv… Ngoài ra mọi công dân được quyền tự do t́m kiếm, thu nhận thông tin từ khắp nơi bằng mọi phương tiện thông tin.

 

2.2. Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền được thông tin theo luật pháp CHXHCN Việt Nam

 

2.2.1. Hiến pháp CSVN

 

Nước Cộng ḥa XHCN Việt Nam đă kư kết tham gia Công Ước Quốc Tế về những quyền Dân Sự và Chính Trị qua sự phê chuẩn của Quốc Hội CSVN vào năm 1982. Trong Hiến Pháp năm 1992, các quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do báo chí và tự do được thông tin được qui định bởi điều 69:

 

Điều 69 (HP92: Hiến Pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 1992): Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu t́nh theo quy định của pháp luật.

 

Tuy các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; quyền được thông tin, được hội họp, lập hội, biểu t́nh được nêu lên trong điều khoản này, nhưng việc thực hiện những quyền tự do căn bản này lại phải lệ thuộc vào pháp luật hiện hành: „theo quy định của pháp luật“.

 

Thí dụ  „tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng ḥa xă hội chủ nghĩa Việt Nam“ được qui trong điều 88 bộ luật h́nh sự hiện hành của nhà nước CSVN:

 

Điều 88. (bộ luật h́nh sự) Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng ḥa xă hội chủ nghĩa Việt Nam

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây nhằm chống Nhà nước Cộng ḥa xă hội chủ nghĩa Việt Nam, th́ bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm:

a) Tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân;

b) Tuyên truyền những luận điệu chiến tranh tâm lư, phao tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân;

c) Làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, văn hoá phẩm có nội dung chống Nhà nước Cộng ḥa xă hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng th́ bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm.

 

Qua điều luật này những lời nói mang nội dung „tuyên truyền truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân“ hoặc có tính cách „Tuyên truyền những luận điệu chiến tranh tâm lư, phao tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân“  cũng như việc „Làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, văn hoá phẩm có nội dung chống Nhà nước Cộng ḥa xă hội chủ nghĩa Việt Nam“  có thể bị phạt tù „đến hai mươi năm“.

 

Điều luật được ban hành từ năm 1999 nhưng giới luật gia tại Việt Nam hoàn toàn không hiểu nổi thế nào là „tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân“, những lời nói nào bị kết tội „Tuyên truyền những luận điệu chiến tranh tâm lư, phao tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân“ và tài liệu nào, văn hoá phẩm nào „có nội dung chống Nhà nước Cộng ḥa xă hội chủ nghĩa Việt Nam“?

 

Qua đó điều 88 bộ luật h́nh sự CSVN dành cho các cơ quan hành pháp và tư pháp chức năng rất lớn là có quyền kết tội người dân một cách tùy tiện.

 

Mặt khác, quyền được tham gia thảo luận các vấn đề chung của đất nước của người dân được qui định bởi điều 53 Hiến Pháp CHXHCNVN „Công dân có quyền tham gia quản lư Nhà nước và xă hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương“. Quyền tham gia thảo luận các vấn đề chung của đất nước bao gồm quyền t́m hiểu căn nguyên của vấn đề hầu có thể đóng góp ư kiến thảo luận để giải quyết vấn đề. Từ những căn nguyên tạo ra vấn đề, những nhược điểm, nhân sự và cơ quan liên quan đến vấn đề được nêu ra và phân tích. Nếu thiếu phần nêu ra và phân tích những nhược điểm, nhân sự hoặc cơ quan gây ra vấn đề th́ sự việc không c̣n mang tính chất thảo luận các vấn đề“ nữa, mà biến thành „chấp hành các vấn đề“!

 

Khoản a đ́ều 88 bộ luật h́nh sự CSVN kết tội việc phê b́nh nhà nước làTuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân“  không những  vi phạm điều 18 và 19 CƯDSCT mà c̣n mâu thuẫn với cả điều 53 Hiến Pháp của CSVN.

 

Khoản c điều 88 kết án việcLàm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, văn hoá phẩm có nội dung chống Nhà nước Cộng ḥa xă hội chủ nghĩa Việt Nam“  mâu thuẫn hoàn toàn với điều 69 của Hiến pháp Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí...“   

 

Điều 146 Hiến Pháp qui định rơ ràng: „Hiến pháp nước Cộng hoà xă hội chủ nghĩa Việt Nam là luật cơ bản của Nhà nước, có hiệu lực pháp lư cao nhất. Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp.“

 

Điều 69 Hiến pháp kết hợp với điều 88 bộ luật h́nh sự của nước CHXHCN VN là vi phạm Hiến pháp nước CHXHCNVN và phản Hiến Chương LHQ cùng vi phạm nhân quyền.

 

Tất cả các điều trong Hiến Pháp CHXHCNVN có cụm từ „… theo quy định của pháp luật“  chiếu theo điều 146 Hiến Pháp là vi hiến.

 

Tất cả các điều luật, nghị định có cụm từ „Tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân“ cũng như các điều luật, nghị định, chỉ thị có cụm từ  „Làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, văn hoá phẩm có nội dung chống Nhà nước Cộng ḥa xă hội chủ nghĩa Việt Nam“ không những chỉ vi phạm tinh thần hiến chương LHQ, Công Ước Quốc Tế các Quyền Dân Sự và Chính Trị, mà c̣n vi phạm chính Hiến Pháp của nước CHXHCNVN.

 

2.2.2. Luật báo chí

 

Luật Báo chí qui định báo chí tại CHXHCNVN là  „cơ quan ngôn luận của các tổ chức của Đảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức xă hội“ phục vụ đường lối, chủ trương và quyền lợi của đảng cộng sản Việt Nam:

 

Điều 1. Vai tṛ, chức năng của báo chí

Báo chí ở nước Cộng hoà xă hội chủ nghĩa Việt Nam là phương tiện thông tin đại chúng thiết yếu đối với đời sống xă hội ; là cơ quan ngôn luận của các tổ chức của Đảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức xă hội (dưới đây gọi chung là tổ chức) ; là diễn đàn của nhân dân.

 

Đ́ều 19, khoản 2 Công Ước Quốc Tế các Quyền Dân Sự và Chính Trị qui định rằng, mọi người đều có quyền tự do bày tỏ và phổ biến tin tức, quan điểm, ư kiến của ḿnh bằng mọi phương tiện truyền thông trong đó có báo chí. Sự qui định báo chí tại Việt Nam„ là cơ quan ngôn luận của các tổ chức của Đảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức xă hội“ cản trở phổ biến quan điểm, tư tưởng đại chúng không thuộc những tổ chức đảng, nhà nước hay các tổ chức chịu sự ảnh hưởng của đảng CSVN.

 

Đồng thời điều 6, đoạn 2 qui định nhiệm vụ của báo chí là „Tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước”

 

Điều 6. Nhiệm vụ và quyền hạn của báo chí

Báo chí có nhiệm vụ và quyền hạn sau đây :

1- Thông tin trung thực về mọi mặt của t́nh h́nh đất nước và thế giới ;

2- Tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước...

 

Luật báo chí CSVN  không cho phép các tổ chức ngoài phạm vi ảnh hưởng của đảng cộng sản Việt Nam (thí dụ như Giáo Hội Phật Giáo Thống Nhất Việt Nam, Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, Giáo Hội Phật Giáo Hoà Hảo, Giáo Hội Cao Đài, Giáo Hội Tin Lành vv...) và mọi công dân phổ biến tư tưởng, suy nghĩ của ḿnh. Qua đó luật báo chí CHXHCNVN vi phạm các điều 18, 19 Công Ước Quốc Tế các Quyền Dân Sự và Chính Trị và Tuyên Ngôn Quốc Tế  Nhân Quyền.

 

2.2.3. Luật Xuất Bản

 

Chiếu theo điều 11 của luật Xuất bản tại nước CHXHCNVN đối tượng được phép thành lập nhà Xuất bản gồm các cơ quan nhà nước, cơ sở của đảng cộng sản Việt Nam và các tổ chức chịu ảnh hưởng đảng cộng sản Việt Nam.   

 

Điều 11. Đối tượng được thành lập nhà xuất bản

Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xă hội và các tổ chức khác do Chính phủ quy định được thành lập nhà xuất bản.

Nhà xuất bản tổ chức và hoạt động theo loại h́nh doanh nghiệp kinh doanh có điều kiện hoặc đơn vị sự nghiệp có thu.

 

Cũng như luật báo chí luật xuất bản của CSVN không cho phép những tổ chức và công dân ngoài tầm ảnh hưởng của đảng cộng sản Việt Nam thành lập nhà xuất bản. Do đó người dân không được thực hiện quyền tự do ngôn luận. Đồng thời, báo chí và nhà xuất bản do các tổ chức đảng, nhà nước và các tổ chức ngoại vi của đảng cộng sản Việt Nam điều hành và quản lư nên người dân không có điều kiện đọc và phổ biến các tin tức khách quan trung thực.

 

2.3. Tóm tắt

 

Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí không những không được tôn trọng tại  CHXHCNVN mà c̣n bị chà đạp có hệ thống bởi những điều luật chồng chéo, mâu thuẫn lẫn nhau.

 

Luật pháp nước CHXHCNVN vi phạm điều 18 và 19  của Công Ước Quốc Tế về Các Quyền Dân Sự và Chính trị và Tuyên Ngôn Quốc Tế  Nhân Quyền.

 

 

2.4 Mười trường hợp tiêu biểu vi phạm tự do ngôn luận, tự do báo chí trong thời gian gần đây

 

Trường hợp 1: Không cho phép báo chí và nhà xuất bản tư nhân hoạt động

 

Tại Việt Nam không có tờ báo hay nhà xuất bản tư nhân hay độc lập nào. Các tôn giáo như Phật Giáo với hàng chục triệu tín đồ, Công Giáo, Phật Giáo Hoà Hảo mỗi tôn giáo với 8 triệu tín đồ, Tin Lành, Cao Đài vv... đều không có quyền xuất bản báo chí hay sách, ngay cả sách kinh. 

 

Trường hợp 2: Kết án 2 nhà báo v́ đưa tin tham nhũng

Ông Nguyễn văn Hải, 33 tuổi, phóng viên tờ Tuổi Trẻ và ông Nguyễn Việt Chiến, 56 tuổi, phóng viên báo Thanh Niên bị bắt giam ngày 12.05.2008 với tội danh “lợi dụng chức vụ - quyền hạn trong khi thi hành công vụ”. Hai nhà báo này đă phanh phui vụ tham nhũng lớn tại bộ giao thông-vận tải là vụ PMU18 làm ảnh hưởng tiêu cực đến chế độ và lănh đạo CSVN.

Trong phiên toà ngày 15/10/2008 hai ông bị kêu án 2 năm tù về tội “lợi dụng quyền tự do, dân chủ” trong lúc hành nghề với loạt bài tố giác tham nhũng hàng triệu đô la trong dự án PMU 18. Nhà báo Nguyễn Việt Chiến khẳng định việc lấy tin từ cơ quan điều tra là hợp pháp. Ông phủ nhận hoàn toàn mọi cáo buộc của viện kiểm sát, cương quyết cho rằng ḿnh chỉ làm nhiệm vụ thông tin như nghề nghiệp quy định. Những tin ông viết đều được chính thiếu tướng Phạm Xuân Quắc cung cấp và đều được ghi băng (đă tŕnh ṭa). Do thái độ cứng rắn của ông, nhà báo Nguyễn Việt Chiến đă bị kết án 2 năm tù giam. Nhà báo Nguyễn văn Hải bị kết án 2 năm tù không giam.

Trường hợp 3: Kỹ Sư Đỗ Nam Hải

Điạ chỉ: 441 Nguyễn Kiệm – Phường 9 – Quận Phú Nhuận – Sài G̣n – Việt Nam.

Kỹ Sư Đỗ Nam Hải học tại Úc về ngành Tiền tệ - Tín dụng. Tháng 1/2002 anh trở về nước và làm việc tại một ngân hàng thương mại.

Từ tháng 6/2000 đến tháng 8/2001 lấy bút hiệu Phương Nam anh Đỗ Nam Hải viết 5 bài chính luận tại Úc đề nghị thực hiện một cuộc Trưng Cầu Dân Ư, để nhân dân Việt Nam được thực hiện Quyền dân tộc tự quyết của ḿnh là lựa chọn thể chế chính trị độc đảng hay đa đảng.

Tháng 8/2004 trong khi đang làm việc tại ngân hàng bị 1 nhóm gồm 5 sỹ quan công an thuộc Bộ công an Việt Nam đến gặp và mời đi làm việc để thẩm vấn về những bài anh viết tại Úc. Sau đó bị giữ lại 50 tiếng mà không hề có lệnh tạm giữ.

 

Tháng 2/2005 bị công an chỉ đạo cho ban lănh đạo ngân hàng, nơi anh đang làm việc chấm dứt Hợp Đồng Lao Động giữa anh với ngân hàng này. Hành động đó không những hoàn toàn trái Công Ước Quốc Tế về các Quyền Dân Sự và Chính Trị, Công Ước Quốc Tế về các Quyền Kinh Tế và Xă HộI mà c̣n trái với Luật lao động hiện hành của nước CHXHCN Việt Nam.

 

Trường hợp 4: Luật sư Lê Thị Công Nhân và Luật sư Nguyễn văn Đài

Ngày 06.03.2007 luật sư Lê thị Công Nhân và Luật sư Nguyễn văn Đài bị bắt tại Hà Nội.  Các cơ quan tuyên truyền của nhà cầm quyền CSVN đă tường tŕnh như sau về nguyên nhân bắt giam hai vị luật sư nhân quyền này: “Đài và Công Nhân có hành vi xuyên tạc chủ trương chính sách của nhà nước về dân chủ, nhân quyền"  VKSND Hà Nội xác định, lợi dụng việc hành nghề luật sư, Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân sử dụng Văn pḥng Thiên Ân để thực hiện hành vi tuyên truyền, chống nhà nước. Lê Thị Công Nhân tham gia khối 8406 và là phát ngôn viên của "đảng Việt Nam thăng tiến". Khám nơi ở của Lê Thị Công Nhân và Nguyễn Văn Đài, lực lượng chức năng thu gần 150 đầu tài liệu. Trong số này có một số sách, bán nguyệt san, tập san bị cấm lưu hành. Tài liệu "tuyên ngôn tự do dân chủ cho Việt Nam" của khối 8406 hay tài liệu kêu gọi tẩy chay bầu cử Quốc hội khóa 12 cũng được t́m thấy. Từ tháng 12/2006, Nguyễn Văn Đài tuyên truyền thành lập "đảng dân chủ thế kỷ 21", "đảng Việt Nam thăng tiến", "khối 8406". Học viên tham dự lớp học do Đài mở được phát tài liệu, tiền, hứa tài trợ đi du học nước ngoài, tạo việc làm.”

 

Theo bản "cáo trạng" số 28/CT của Viện Kiểm sát Nhân dân thành phố Hà Nội đưa ra tại phiên xử th́ các bị cáo "đă có hành vi tàng trữ các tài liệu có nội dung xuyên tạc lịch sử dân tộc, bôi nhọ chế độ xă hội do đảng Cộng sản lănh đạo, vu cáo xuyên tạc chính sách của Nhà nước đối với tổ chức Công đoàn và giai cấp công nhân Việt Nam"

 

Ngày 11.05.2007 một phiên toà ngắn ngủi tại Hà Nội kết án Ls Lê thị Công Nhân 4 năm tù và 4 năm quản chế, luật sư Nguyễn văn Đài 5 năm tù ở và 5 năm quản chế  về „tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng ḥa xă hội chủ nghĩa Việt Nam“  theo điều 88 của bộ luật h́nh sự nước CHXHCNVN.

 

Phiên toà phúc thẩm vào tháng 11 năm 2007 bản án đă được hạ xuống c̣n 3 năm tù và 3 năm quản chế cho luật sư Lê thị Công Nhân và 4 năm tù ở và 4 năm quản chế cho luật sư Nguyễn văn Đài.

Nhận xét của luật sư Trần Lâm về việc phiên toà xét xử hai luật sư Lê thị Công Nhân và Nguyễn văn Đài như sau:  “… Sai lầm của truy tố xét xử, điều tra là nói có những tài liệu này, lời nói này nên có tội mà không hề có trích dẫn, không hề có biện luận …”

 

Trường hợp 5: Bán Nguyệt San “Tự Do Ngôn Luận”, Linh mục Nguyễn văn Lư

Ngày 30/03/2007 tại toà án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, linh mục Nguyễn Văn Lư, người khởi xướng và thực hiện Bán Nguyệt San “Tự Do Ngôn Luận” bị kết án 8 năm tù ở và 5 năm quản chế về „tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng ḥa xă hội chủ nghĩa Việt Nam“  theo điều 88 của bộ luật h́nh sự nước CHXHCNVN trong phiên toà ngắn ngủi.

 

Linh Mục Nguyễn Văn Lư bị bịt miệng trong phiên toà ngày 30/03/2007

 

Bán Nguyệt San Tự Do Ngôn Luận , công tŕnh tập thể của nhiều thành viên Khối 8406 với Chủ nhiệm là Linh mục Chân Tín, Ban Biên tập gồm có Linh mục Nguyễn Văn Lư, Linh mục Phan Văn Lợi, Luật sư Nguyễn Văn Đài, Kư giả Nguyễn Khắc Toàn và một số cộng sự viên khác.

 

Bán nguyệt san Tự Do Ngôn Luận  ra đời ngày 08/04/2006, nhằm thông tin những tin tức trung thực đến người dân trong nước và vận động công dân đóng góp ư kiến giải quyết những khó khăn mọi mặt (luật pháp, tôn giáo, chính trị, xă hội vv…) của đất nước hiện nay mà đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam do cấu trúc độc tài của họ không thể giải quyết được. Đến nay Bán nguyệt san Tự Do Ngôn Luận đă phát hành được 64 số báo mặc dù với hoàn cảnh cực kỳ khó khăn kể từ 15/04/2006 đến nay (số 64 ra ngày 01/12/2008, tổng cộng đă được 2 năm 8 tháng rưỡi), Người chủ xướng Bán nguyệt san Tự Do Ngôn Luận LM Nguyễn Văn Lư và Ls Nguyển Văn Đài, cộng tác viên trong ban biên tập, đều đang bị cộng sản cầm tù. Người thay thế chủ động là LM Phan Văn Lợi cũng bị nhà cầm quyền cộng sản VN quản chế theo dơi, đấu tố trước công chúng, mạ lỵ, đe dọa trừng phạt vv… Nhiều cộng sự viên khắp cả nước cũng bị cản trở trong việc phát hành, độc giả của tờ báo cũng bị sách nhiễu cấm cản. Tất cả  nhằm triệt hạ cơ quan tranh đấu cho quyền được thông tin trung thực, được phát biểu thẳng thắn, được tŕnh bày rơ ràng về những vấn đề quan trọng của đất nước Việt Nam dưới chế độ cộng sản độc tài hiện nay.

( không khác thời kỳ 1954 của Hồ sơ vụ án Nhân Văn Giai Phẩm bị truy tố và bắt giam )

 

Trường hợp 6: Bác sĩ Nguyễn Đan Quế

 

Ngày 19-7-2004 Bs Nguyễn Đan Quế bị kết án 30 tháng tù dưới tội danh “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước’’. Được biết bác sĩ Nguyễn Đan Quế bị bắt hôm 17.03.2003 tại Sài g̣n v́ trước đó vài ngày ông đă phổ biến một bài viết trên Internet chỉ trích t́nh trạng thiếu tự do thông tin tại Việt Nam.

 

Năm 1991, Bs Nguyễn Đan Quế cũng đă bị giới hữu trách Hà nội tuyên án tù 20 năm v́ công khai kêu gọi tổ chức bầu cử tự do và thiết lập hệ thống chính trị đa đảng.

 

Trường hợp 7: Nữ đạo diễn Song Chi

 

Nữ đạo diễn Song Chi  bị khước từ hợp đồng với hăng phim truyền h́nh TFS thuộc đài truyền h́nh HTV (TP.HCM) v́ đă các bài viết thẳng thắn thể hiện quan điểm trên trang Web, tham gia biểu t́nh chống Trung Quốc lấn chiếm Hoàng Sa-Trường Sa.Trong cuộc phỏng vấn với đài phát thanh RFA ngày 10/5/008, Song Chi đă cho biết như sau:

 

Ngày mùng 2 vừa qua th́ tôi có lên gặp ông Nguyễn Việt Hùng - Giám Đốc hăng phim TFS, ông Nguyễn Việt Hùng có thông báo cho tôi biết rằng là bên an ninh họ đến làm việc với Tổng Giám Đốc Đài và Ban Giám Đốc của hăng phim, đề nghị là không mời đạo diễn Song Chi cộng tác nữa v́ lư do như họ nói là "có vấn đề về chính trị, có viết bài gửi các trang web bên ngoài, trả lời báo đài và có những mối quan hệ với những phần tử phức tạp về chính trị”.

 

Trường hợp 8: Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do 

 

a/ Nhà báo tự do Nguyễn Văn Hải, thường được biết đến qua bút hiệu Hoàng Hải và Điếu Cầy, sinh năm 1953, nguyên quán Hải Pḥng. Ông thành lập Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do, quy tụ các cây bút t́nh nguyện viết về thực trạng xă hội Việt Nam hiện tại và phản ánh tâm tư, nguyện vọng của người dân và lên tiếng tranh đấu cho họ, những người bị thiệt hại do chính sách trưng dụng đất đai, nhà cửa và đối xử bất công của nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam. Ông thành lập hai trang mạng: một mang tên “Dân Báo”, đăng tải phóng sự và bài viết do những thành viên của Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do thực hiện; và mạng thứ hai mang tên “Điếu cày”, ghi lại những suy nghĩ cá nhân về thực trạng xă hội Việt Nam hiện tại và sưu tập những bài viết đáng chú ư về Việt Nam.

Ông  thường xuyên bị công an liên tục quấy nhiễu bằng cách triệu tập đến đồn công an làm việc, bất chấp giờ giấc sinh hoạt b́nh thường của một công dân tự do, ḥng tạo áp lực và khủng bố tinh thần để ông, buộc ông chấm dứt các hoạt động xă hội và đấu tranh của ḿnh. Ông bị bắt ngày 19/4/2008 và bị đưa ra ṭa về tội danh ngụy tạo “trốn thuế”. Ông bị tuyên án 2 năm rưỡi tù giam vào ngày 10-9-2008. Nhiều cơ quan nhân quyền quốc tế và Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam đă lên tiếng phản đối, nhất là Hội Nhà Báo Không Biên Giới đă đ̣i Hà Nội phải trả tự do cho Ông.

 

b/ Cùng với Ông Nguyễn Văn Hải, Nữ nhà báo Dương Thị Xuân là thành viên của "Câu lạc bộ nhà báo Tự do" tại Thủ đô, chị đă từng bị công an Hà Nội bắt bớ, giam giữ phi pháp và bị đánh đập  nhiều lần trong các đồn bốt của cảnh sát tại giữa thủ đô trong mấy năm qua kể từ khi chị tham gia Phong trào đấu tranh cùng nhiêù anh chị em dân chủ cho đồng bào dân oan các tỉnh. Chị cũng đă từng bị công an Hà Nội tổ chức tông xe máy trên đường Thanh Niên bên hồ Trúc Bạch và Hồ Tây hồi giữa năm 2006 nhằm ngăn chặn chị tham gia  vào Phong trào đấu tranh đ̣i dân chủ hoá đất nước .Đặc biệt, vào hồi đầu tháng 8/2006 chị đă bị bắt giữ, khám nhà, bị tịch thu khám máy vi tính, máy liên lạc, bị thẩm vấn nhiều ngày trên pḥng điều tra an ninh của sở công an Hà Nội tại 87 phố Trần Hưng Đạo khi tham gia sáng lập tờ báo đấu tranh cho Dân chủ, Nhân quyền, Công lư  mang tên Tập San Tự Do Dân Chủ do nhà văn Hoàng Tiến và nhà báo Nguyễn Khắc Toàn khởi xướng.

 

Trường hợp 9: Cách chức Tổng biên tập báo Đại Đoàn Kết

 

Ngày 27/10/2008  Uỷ Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc VN, đă công bố cách chức Ông Lư Tiến Dũng (Tổng Biên Tập) và ông Đặng Ngọc (Phó Tổng Biên Tập) với lư do “vi phạm luật báo chí”.

 

Được biết báo Đại Đoàn Kết vừa qua đă cho đăng tải nhiều bài viết mà các báo khác không dám đăng được mô tả là trái chiều với quan điểm của Đảng và Nhà nước như:

-         lá thư của Đại Tướng Vơ Nguyên Giáp gởi các cấp lănh đạo Đảng và Nhà nước tŕnh bày quan điểm ngược lại về chủ trương phá bỏ Hội Trường Ba Đ́nh và  xây dựng trụ sở Quốc Hội trên  khu di tích Hoàng Thành Thăng Long, 

-         bài tham luận ‘Cần phải xoá bỏ bao cấp về chính trị’  của  linh mục Nguyễn Thiện Cẩm (Uỷ Viên Trung ương Mặt Trận Tổ Quốc VN, phó chủ nhiệm Uỷ Ban đoàn kết công giáo) , 

-         một số bài của nhà báo Thái Duy và Hữu Nguyên  đưa nhiều ư kiến  về t́nh trạng chính trị bức xúc ở VN.

Trường hợp 10: Đánh đập nhà báo Ben Stocking (AP) trong lúc đang hành nghề

Hôm 19/9/2008 ông Ben Stocking, trưởng đại diện của hãng Associated Press tại Hà Nội, đã bị ‘đấm, bóp cổ và đập vào đầu’ khi đưa tin về cuộc cầu nguyện của giáo dân ở khu vực Tòa Khâm sứ cũ. Công an CSVN đă bắt ông Stocking về đồn công an 2 tiếng đồng hồ mặc dù đầu ông bị chảy máu. Công an CSVN đă bắt ông Stocking về đồn công an 2 tiếng đồng hồ và đánh ông đến chảy máu đầu. Sau đó ông đă tới bác sĩ điều trị và được khâu 4 mũi kim.

 

 

C̣n vô số trường hợp vi phạm khác về vi phạm tự do ngôn luận và báo chí như đối với LM Phan văn Lợi, TT Thích Thiện Minh, Ḥa Thượng Thích Quảng Độ, Lê Trí Tuệ, Giáo sư Nguyễn Chính Kết ( 2006) Giáo sư Hoàng Minh Chính, Ls Lê Quốc Quân,  Nguyễn Xuân Nghĩa, Phạm Quế Dương, Bác sĩ Nguyễn Đan Quế (2004), Cụ Lê Quang Liêm, Vũ Hùng, Cô Phạm Thanh Nghiên, Kư giả Nguyễn Vũ B́nh, Luật sư Lê Chí Quang, Bác sĩ Phạm Hồng Sơn, Kư giả Nguyễn Khắc Toàn (2003),  Phạm Bá Hải, Trương Quốc Huy,Trần Thiên Lộc, Nguyễn Ngọc Quang,  Ks Bạch Ngọc Dương. Chị Phương Thy,  Ms Nguyễn Hồng Quang, Cô Quỳnh Trâm, Anh Trần Quốc Hiền, Ms Phạm Ngọc Thạch., luật sư Nguyễn thị Thùy Trang, nhà văn Trần khải Thanh thuỷ, Hồ thị Bích Khương,Phan Thanh Hải,Lê Thanh Tùng, Lương Văn Sinh, Phạm thị Ứng, Ngô Mai H, Vũ Hoàng Hải, Bùi Chat, Quốc Dung, Uyên Vũ, Anh Bằng, Lê Hào, Đức Hội,Tạ Phong Tan,  Đào Văn Thuỵ, Nguyễn Phương Anh,  Nguyễn Trung Lĩnh, Phạm Văn Trội, Nguyễn Đức Chính, Ngô Quỳnh,Trần văn Thạch,Trần Đức Thạch ,Nguyễn văn Tuc, nhà văn Hoàng Tiến, vũ cao Quận, LM Chân tín, LM Nguyễn Hữu Giải, Trần Khuê, Bùi Minh Quốc, Hà Sĩ Phu, Hoà thượng Thích Không Tánh,  Nguyễn bá Đăng,Trương quốc Tuấn, Lưu thị thu Duyên, Lưu thị thu Trang, Lê thị Kim Thu,Nguyễn Ngọc Quang,Phạm bá Hải,Vũ Hoàng Hải .Dương thị Xuân,Lê Xuân Kính, Phan Thanh Hải,Nguyễn Văn B́nh, Nguyễn Thanh Giang, Nguyễn hải chiến, Nguyễn văn Hải, Bùi kim Thành vv…

 

Và người ta có thể liệt kê được hàng triệu vi phạm khác, nếu những quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí  được tôn trọng tại Việt Nam.

 

3. Vi phạm quyền tự do lập hội, tự do liên kết, tự do hội họp

 

3.1. Luật nhân quyền quốc tế

 

Tự do lập hội, tự do liên kết, tự do hội họp thuộc về các quyền căn bản của mọi người được qui định trong các điều 21 và 22 của Công Ước Quốc Tế Những quyền Dân Sự và Chính Trị cũng như bởi bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền ở điều 20 và điều 23, khoản 4.

 

3.2. Luật pháp CSVN

 

3.2.1. Hiến Pháp

 

Điều 69: Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu t́nh theo quy định của pháp luật.

 

Những quyền tự do lập hội, tự do hội họp, tự do biểu t́nh của người dân được qui định trong điều 69 Hiến Pháp CSVN. Tuy có câu  „theo quy định của pháp luật“, nhưng trong luật pháp CSVN hiện nay không có điều luật nào cấm không cho phép lập hội, liên kết, hội họp hoặc biểu t́nh. Tuy thế những thành viên của các tổ chức không cộng sản thường bị kết án bằng những tội danh như „gây rối trật tự công cộng“, „tuyên truyền chống nhà nước“, “lợi dụng dân chủ chống phá nhà nước Việt Nam” vv..

 

3.2.2. Luật Công Đoàn

 

Các Công Đoàn tại Việt Nam bị chi phối bởi Luật Công Đoàn do Quốc Hội thông qua ngày 30 tháng 6 năm 1990. Theo luật này,

 

Công đoàn là tổ chức chính trị - xă hội rộng lớn của giai cấp công nhân và của người lao động Việt Nam (gọi chung là người lao động) tự nguyện lập ra dưới sự lănh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam; là thành viên trong hệ thống chính trị của xă hội Việt Nam; là trường học chủ nghĩa xă hội của người lao động. (Điều 1, luật Công Đoàn)

 

Điều 1 của luật công đoàn của nước CHXHCNVN đă vạch ra một nguyên tắc cơ bản cho các tổ chức công đoàn tại Việt Nam là phải chịu sự lănh đạo của đảng cộng sản. Tại Việt Nam ngày nay, phần lớn các xí nghiệp đều thuộc về nhà nước. Cương lĩnh đảng và luật pháp nước  qui định đảng CSVN lănh đạo nhà nước và xă hội, do đó đảng CSVN là chủ nhân của mọi thành viên các cơ quan chính phủ và của các xí nghiệp quốc doanh. V́ do đảng lănh đạo, các  công đoàn tại Việt Nam không phải là những tổ chức bảo vệ quyền lợi người lao động, ngược lại là công cụ được đảng CSVN sử dụng để bóc lột công nhân một cách có hệ thống. Điều này hoàn toàn trái ngược với quy định của Công Ươc Quôc Tế về các quyền Dân Sự và Chính Trị.

 

Điều 22 Công Ước Quốc Tế về các Quyền Dân Sự và Chính Trị và điều 23, khoản 4 của Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền bảo đảm cho mọi người quyền tự do thành lập hội đoàn, nghiệp đoàn độc lập để bảo vệ quyền lợi cho ḿnh. Hội đoàn, nghiệp đoàn không phải chịu sự lănh đạo của của Đảng cộng sản Việt Nam như luật Nhà nước CSVN qui định.

 

3.3 Mười trường hợp tiêu biểu vi phạm tự do lập hội, tự do liên kết của CSVN

 

Trường hợp 1: Hiệp Hội Đoàn Kết Công-Nông

 

Nhà cầm quyền CSVN đă bắt giữ toàn ban lănh đạo Hiệp Hội Đoàn Kết Công-Nông Việt Nam, một tổ chức công đoàn độc lập được thành lập năm 2006.

-         Luật sư Trần Quốc Hiền, phát ngôn nhân Hiệp Hội này đă bị bắt giữ ngày 1/01/2007 và bị kết án 5 năm tù ở và 2 năm quản chế.

-         Đoàn Huy Chương ( Nguyễn Tấn Hoành)25 tuổi: Đại diện Hiệp Hội 1 năm 6 tháng tù, không giăm án, vừa bị bắt lại ngày 29/01/2010 

-         Đoàn Văn Diên: 4 năm 6 tháng tù, không giảm án

-         Trần Thị Lệ Hồng (Lệ Hằng): 3 năm tù, không giảm án

-         Nguyễn Thị Tuyết, đă bị tuyên án 1 năm 6 tháng tù

-         Đoàn Văn Diên, Đoàn Huy Chương, Lê Bá Triết, Nguyễn Tuấn đang bị giam tại các trại như B34, Đồng Nai, 4 Phan Đăng Lưu Sài G̣n..

-         3 nhà hoạt động đang bị giam giữ là Đoàn Huy , 24 tuổi, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, 29 tuổi, và Đỗ Thị Minh Hạnh, 25 tuổi.

-         Một số thành viên khác đang bị truy nă hoặc sách nhiễu như Lưu Văn Xi, Trần thị Tuyết  

-         Trường hợp 2: Đảng Thăng Tiến Việt Nam

 

*Ngày 8-9-3006,  Một ủy ban gồm một số nhà trí thức trẻViêt Nam  công bố Cương Lĩnh Chinh Trị và thành lập đảng Thăng Tiến Viêt Nam dựa theo những chính sách  cơ bản như:

 

* Thăng tiến Tổ quốc Việt Nam về các phương diện kinh tế, chính trị, xă hội, văn hóa, tâm linh để Dân tộc được sống trong một Đất nước ḥa b́nh, độc lập, tự do ; Xă hội đạo đức, văn minh ; Quốc Dân thịnh vượng, hạnh phúc.

* Tái lập và thực thi các quyền tư hữu trọn vẹn và chính đáng của toàn Dân.

*. Bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lănh thổ và quyền lợi của Dân tộc và Tổ quốc Việt Nam trước Quốc Tế.

Quyềt xây dựng một xă hội dựa trên nền tảng:

1. Các học thuyết nhân bản về xă hội và kinh tế đă được các Nước dân chủ, văn minh áp dụng có hiệu quả và uy tín để xây dựng ḥa b́nh, công lư, nhân quyền, dân quyền, thăng tiến văn hoá, xă hội và phát triển kinh tế ổn định, bền vững.

2. Các Tuyên ngôn và Công ước Quốc Tế về Nhân quyền và Dân quyền của Liên Hiệp Quốc.

3. Các giá trị tín ngưỡng, tôn giáo.

4. Truyền thống văn hoá, đạo đức tốt đẹp và bền vững của Dân tộc Việt Nam.

5. Khát vọng của toàn Dân Việt Nam về Ḥa b́nh, Sự thật, Công bằng, Nhân ái, Tự do, Dân chủ.

 

Đảng Thăng Tiến đă gây được một ảnh hưởng khá lớn và được ủng hộ mạnh mẽ trong thành phần trí thức và giới trẻ. Đó chính là lư do khiến nhà cầm  quyèn Việt triệt hạ :

 

Trong tháng 2 và tháng 3/2007 toàn thể ban thành lập Đảng Thăng Tiến Việt Nam bị bắt và kết án tại Huế và Hà Nội:

- Anh Nguyễn Phong , trưởng ban thành lập đảng Thăng Tiến Việt Nam ( bị bắt giữ ngày 17/02/2007 ) 6 năm tù ở và 3 năm quản chế.

- Anh Nguyễn B́nh Thành , đồng sáng lập viên đảng Thăng Tiến Việt Nam ( bị bắt giữ ngày 17/02/2007 ) 5 năm tù ở và 2 năm quản chế .

- Cô Hoàng Thị Anh Đào , thư kư đảng Thăng Tiến Việt Nam ( bị bắt giữ ngày 19/02/2007 ) 2 năm tù treo và 3 năm quản chế .

- Cô Lê Thị Hằng, thư kư đảng Thăng Tiến Việt Nam ( bị bắt giữ ngày 19/02/2007 ) 18 tháng tù treo và 2 năm quản chế .

- Luật sư Lê thị công Nhân phát ngôn nhân đảng Thăng Tiến Việt Nam, thành viên  sáng lập Đảng Thăng Tiến Việt Nam, cố vấn Uỷ ban Nhân Quyền Việt Nam ( bị bắt giữ ngày 06/03/2007 ) 3 năm tù ở và 3 năm quản chế.

 

Trường hợp 3:  Đảng Việt Tân

 

Các thành viên Đảng Việt Tân ông Nguyễn thế Vũ, ông Nguyễn Việt Trung, ông Nguyễn Quốc Hải  (Somsak Khunmi ) bị bắt ngày 17/11/2007 tại Sàig̣n cùng với ông Nguyễn Quốc Quân (quốc tịch Hoa Kỳ), bà Nguyễn Thị Thanh Vân (quốc tịch Pháp) và ông Trương văn Ba (quốc tịch Hoa Kỳ).

 

Với áp lực của quốc tế  bà Nguyễn Thị Thanh Vân và ông Trương văn Ba được thả ra ngày 11/12/2007 và với Ông Nguyễn Quốc Quân được trở về Hoa Kỳ ngày 13/05/2008.

 

Trường hợp 4:  Đảng Dân chủ Nhân Dân

 

Ngày 10-5-2007 “toà án nhân dân” tại Sàig̣n  kết án các thành viên lănh đạo đảng Dân Chủ Nhân Dân „tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng ḥa xă hội chủ nghĩa Việt Nam“  chiếu theo điều 88 của bộ luật h́nh sự nước CHXHCNVN

-         Bác sĩ Lê Nguyên Sang ,nhà dân chủ đối kháng sử dụng Internet, bị kết án 4 năm và 6 tháng tù 

-         Kư giả Huỳnh Nguyên Đạo,nhà dân chủ đối kháng sử dụng Internet, bị kết án 2 năm và 6 tháng tù

-         Luật sư Nguyễn Bắc Truyễn, nhà dân chủ đối kháng sử dụng Internet, bị kết án 3 năm và 6 tháng tù

Phiên toà phúc thẩm ngày 17 tháng 8 năm 2007 nhà cầm quyền Hà Nội đă giảm bản án Bác sĩ Lê Nguyên Sang xuống 4 năm tù, luật sư Nguyễn Bắc Truyễn được giảm 1 năm xuống c̣n 3 năm và  kư giả Huỳnh Nguyên Đạo giảm 6 tháng, c̣n 2 năm rưỡi.

 

Trường hợp 5: Câu Lạc Bộ Dân Chủ cho Việt Nam

 

Kư giả Nguyễn Vũ B́nh đă làm việc gần 10 năm cho Tạp chí Cộng sản, cơ quan lư luận của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tháng 1 năm 2001, ông nghỉ việc và tỏ ư muốn lập Đảng Dân Chủ Tự Do Việt Nam. Sau đó, ông cùng với 16 người khác đă viết thư mở đến chính quyền kêu gọi cải cách chính trị và trả tự do cho các tù nhân chính trị. Ông cũng ủng hộ  thành lập "Hội nhân dân giúp Đảng và Nhà nước chống tham nhũng" và trở thành thành viên sáng lập của Câu lạc bộ dân chủ cho Việt Nam. Ngày 21 tháng 7 năm 2002, sau khi ông gởi một bài điều trần tới Ủy ban Nhân quyền của Quốc hội Hoa Kỳ về t́nh h́nh vi phạm nhân quyền ở Việt Nam, công an đă khám nhà ông ở Hà Nội và tịch thu các tài liệu và sách vở. Ông bị biệt giam tới giữa tháng 8/2002 trước khi được trở về giam tại nhà. Trong thời gian bị giam tại nhà, ông thường xuyên bị sách nhiễu, theo dơi và phải tŕnh diện thường xuyên để công an thẩm vấn. Sau khi ông đưa lên Internet bài viết "Một vài suy nghĩ về Hiệp định Biên giới Việt-Trung," trong đó ông chỉ trích chính phủ đă làm thiệt hại hàng trăm kilomet vuông đất đai của Việt Nam, ông lại bị bắt vào ngày 25 tháng 9 năm 2002. Ngày 31 tháng12 năm 2003, Nguyễn Vũ B́nh bị tuyên án 7 năm tù giam và 3 năm quản thúc tại gia v́ tội “làm gián điệp”. Do áp lực của quốc tế như Chính phủ Hoa Kỳ, các quốc gia Âu Châu, tổ chức Kư giả Không Biên giới, Quan sát Nhân quyền, Uỷ ban Bảo vệ Các nhà báo, World Association of Newspapers, và Diễn đàn Biên tập viên Thế giới vv... Nhà cầm quyền CSVN đă thả ông ra khỏi nhà tù nhân chuyến công  du Hoa Kỳ của Chủ tịch Nguyễn Minh Triết vào tháng 6/2007.

 

Trường hợp 6: Nhóm Người Việt Nam Yêu nước và Hội Ái Hội Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo tại Việt Nam (Vietnamese Political and Religeous Prisoners Frienship Association)

 

Ông Trương Minh Nguyệt, Kỹ sư Nông cơ, Phó Hội trưởng Hội Ái hữu Tù nhân Chính trị và Tôn giáo Việt Nam, đă bị bắt ngày 4-6-2007 cùng với kỹ sư Nguyễn Văn Ngọc thành viên của Hội. Được biết, 2 kỹ sư có liên quan vụ đến vụ án chính trị của tổ chức “Nhóm Người Việt Nam Yêu nước” tại Hà Nội; hiện 2 người đang bị tạm giam tại tỉnh Đồng Nai.

 

Thượng Toạ Thích Thiện Minh sau 26 năm bị giam tù đày, thành lập Hội Ái Hội Tù Nhân Chính Trị tại Việt Nam vào tháng 11/2006 thường xuyên bị công an xách nhiễu, kiểm soát công việc hàng ngày. Họ lập chốt trước nhà Thượng Toạ, kiểm soát và tra khảo những người ra vào nhà.

 

Trường hợp 7: Đảng v́ Dân

 

Mục sư Hồng Trung, người đại diện Đảng V́ Dân ở Việt Nam bị bắt giữ ngày 22/02/2007, Sinh viên Đặng Hùng bị bắt ngày 17/05/2007.

Kư giả Trương Minh Đức bị bắt giữ ngày 17/02/2008. Trong phiên toà ngày  28/03/2008 tại tỉnh Kiên Giang ông Đức bị kết án án 5 năm tù giam v́ tội “lợi dụng dân chủ chống phá nhà nước Việt Nam”.

 

Trường hợp 8: Đảng Dân Chủ 

 

Ông Hoàng Minh Chính Đảng Dân chủ Việt Nam. bị CSVN tổ chức những côn đồ và xă hội đen thô bạo hảm hại ném acide vào nhà  Ông tại ngơ 21 Lư Thường Kiệt (nơi ông ở) hay việc ngăn cấm những người liên lạc với Ông  , Ông suốt đời thiết tha với vận nước. Và đến cuối cuộc đời ông suy ngẫm và day dứt, nên ông viết ba  tâm thư đề ngày 17-1-2008 cho ĐCSVN trước khi ông chết

 

Trường hợp 9:  Ủy Ban Nhân Quyền Việt Nam  

 

Ủy Ban Nhân Quyền Việt Nam do 2 luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân thành lập vào ngày 10/12/2006. Sau khi 2 luật sư Đài và Công Nhân bị cầm tù, Ủy Ban Nhân Quyền Việt Nam do kỹ sư Phạm Văn Trội  tiếp tục điều hành.

 

11g30 đêm 10/9/2008, 11 công an đă xông vào nhà anh Phạm Văn Trội bắt anh đem đi mà không hề đọc lệnh bắt. Công an đă khám xét nhà, tịch thu máy vi tính và điện thoại di động của anh.

 

Trường hợp 10:  Khối 8406  

 

DANH SÁCH CÁC TÙ NHÂN LƯƠNG TÂM CỦA KHỐI 8406

35 vị (sắp xếp theo vần) Cập nhật ngày 04-10-2008

 

 I. Đă bị kết án và bị cầm tù:

1- Ông Đoàn Văn Diên, 4 năm 6 tháng

2- Luật sư Nguyễn Văn Đài, 5 năm tù.

3- Kư giả Huỳnh Nguyên Đạo, 3 năm tù.

4- Kư giả Trương Minh Đức, 5 năm.

5- Anh Phạm Bá Hải, 5 năm tù

6- Anh Vũ Hoàng Hải, 2 năm tù

7- Luật sư Trần Quốc Hiền, 5 năm tù

8- Chị Trần Thị Lệ Hồng, 3 năm.

9- Anh Trương Quốc Huy, 6 năm tù.

10- Chị Hồ Thị Bích Khương, 2 năm tù

11- Linh mục Nguyễn Văn Lư, 8 năm tù

12- Luật sư Lê Thị Công Nhân, 4 năm tù.

13- Anh Hàng Tấn Phát, 6 năm tù.

14- Chuyên gia Nguyễn Phong, 6 năm tù.

15- Anh Nguyễn Ngọc Quang, 3 năm tù

16- Ông Phùng Quang Quyền, 1 năm 6 tháng.

17- Bác sĩ Lê Nguyên Sang, 5 năm tù.

18- Anh Lương Văn Sinh, 2 năm tù.

19- Ông Lê Văn Sóc, chức sắc Ḥa Hảo, 6 năm tù.

20- Chuyên viên Nguyễn B́nh Thành, 5 năm tù.

21- Luật sư Nguyễn Bắc Truyễn, 4 năm tù.

22- Chị Nguyễn Thị Tuyết, 1 năm 6 tháng.

II. Bị giam giữ chưa xét xử

1- Dân oan Nguyễn Thị Cẩm Hồng, Long An

2- Thầy giáo Vũ Hùng, Hà Tây

3- Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, Hải Pḥng

4- Chiến sĩ Phạm Thanh Nghiên, Hải Pḥng

5- Dân oan Nguyễn Kim Nhàn, Bắc Giang

6- Sinh viên Ngô Quỳnh, Bắc Giang

7- Nhà thơ Trần Đức Thạch, Nghệ An

8- Dân oan Lê Thị Kim Thu, Đồng Nai

9- Dân oan Nguyễn Văn Tính, Hải Pḥng

10- Kỹ sư Phạm Văn Trội, Hà Tây

11- Dân oan Nguyễn Văn Túc, Thái B́nh

III. Bị truy nă

1- Giáo sư Nguyễn Chính Kết, Sài G̣n

2- Dân oan Đỗ Thị Kim Phế, Đồng Tháp

 

3.4. Những trường hợp tiêu biểu vi phạm tự do hội họp, tự do biểu t́nh

 

Trường hợp 1: Đơn xin biểu t́nh của nhà văn Nguyễn Xuân Nghiă và cô Phạm Thanh Nghiên

 

Ngày 14 tháng 6 năm 2008 cô Phạm Thanh Nghiên (Hải Pḥng), nhà văn Nguyễn Xuân Nghiă (Hà Nội)  làm đơn gửi UBND Thành phố Hà Nội xin phép biểu t́nh t́nh tại khu vực trước Bưu điện Hà Nội và xung quanh Hồ Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.  

 

Cuối tháng 6/2008 họ nhận được thông báo số 148/TB- UBND, kư ngày 26/6/2008 của UBND thành phố Hà Nội v/v “ không cho phép tiến hành hoạt động tập trung đông người (biểu t́nh) ở nơi công cộng”. Ngày 10/7/2008, ông Nguyễn Xuân Nghĩa và cô Phạm Thanh Nghiên đă chung đơn khiếu nại lên UBND thành phố Hà Nội và trước đó chính thức mời luật sư Lê Trần Luật (Văn pḥng luật sư Pháp Quyền) giúp đỡ pháp lư.

 

Sau khi thảo luận và thống nhất, Luật sư Lê Trần Luật đă tới Thành phố Hải Pḥng ngày 21/8/2008 gặp gỡ và cùng thân chủ đến Ṭa án Nhân dân Thành phố Hà Nội nạp đơn vào ngày hôm sau. Ngay từ ngày 16/8/2008, công an đă đặt chốt canh gác ngày đêm tại nhà riêng của cô Phạm Thanh Nghiên và nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa. Mỗi khi đi ra khỏi nhà, họ luôn bị từ 3 đến 4 công an bám theo. Lực lượng công an mật vụ được tăng cường khi hai người ra sân bay đón Luật sư Lê Trần Luật. Vào lúc 23:20 ngày 21/8, công an Hải Pḥng đă “gơ cửa” pḥng khách sạn yêu cầu Luật sư Lê Trần Luật  phải “làm việc”với họ. Bốn công an Hải Pḥng, dẫn đầu là Trung tá Nguyễn Văn Hải thuộc pḥng PA25, đă “khuyên” luật sư “không nên làm vụ này”. Lư do họ đưa ra v́ “cô Nghiên và ông Nghĩa là những người bất đồng chính kiến với đảng cộng sản Việt Nam”. Và v́, “nước Cộng ḥa xă hội chủ nghĩa Việt Nam từ trước tới nay chưa có tiền lệ nào như thế”. Luật sư Lê Trần Luật khẳng định: “ Ngày mai chúng tôi vẫn đi Hà Nội để nạp đơn khởi kiện!”

 

Sáng hôm sau, 22/8/2008 công an Hải Pḥng đă bám theo ba người đến tận địa phận Hải Dương. Khi đến Hà Nội, họ lại tiếp tục “được” công an Hà Nội “chăm sóc”. Đến ṭa, họ lại tiếp tục gặp những ngăn trở đă được sắp xếp sẵn. Tuy nhiên, với sự quyết tâm của người đi kiện và những lư lẽ của luật sư, Ṭa đă buộc phải nhận đơn.

Văn pḥng và nhà riêng của Luật sư Lê Trần Luật  từ lúc đó bị công an canh gác và theo sát mỗi khi đi ra ngoài. Chiều 24/8, Luật sư Luật đă bị công an Sàig̣n ép xe vào lề đường khi ông đi gặp một thân chủ khác (ngày 4/7/2008, cô Phạm Thanh Nghiên đă bị công an Hải Pḥng ép xe, hành hung ngay trên đường phố sau khi nộp đơn xin biểu t́nh).

 

Cuối tháng 8/2008 cô Phạm Thanh Nghiêm nhận được “Thông báo về việc trả lại đơn khởi kiện” của Ṭa án thành phố Hà Nội do Thẩm phán Mai Văn Quang kư đề ngày 26/08/2008 với lư do „không thuộc thẩm quyền giải quyết của toà án“.

 

Nếu toà án không có thẩm quyền giải quyết những sai phạm luật pháp của  các cơ quan hành pháp th́ cơ quan nào có thẩm quyền trong lănh vực này? Người dân sẽ kiện ở đâu nếu các cơ quan hành pháp vi phạm luật pháp?

 

Trường hợp 2: Đàn áp cuộc biểu t́nh sinh viên chống chủ nghĩa bá quyền của Trung Quốc xâm lược Việt Nam 

 

Sau hai cuộc biểu t́nh ngày 9 và 16/12/2007 chống chủ nghĩa bành trướng bá quyền của Trung Quốc một số sinh viên tham gia  biểu t́nh bị nhà trường mời lên "nhắc nhở", "cảnh cáo". Các Bí thư Đoàn thanh niên đă được mời hợp tác với công an và các lớp trưởng ở các trường trung học, cao đẳng, đại học trong nước để có những buổi "làm việc" với học sinh sinh viên. Nội dung các buổi làm việc này tóm lược trong một ư: Theo công văn của Bộ giáo dục ngày 21/12/2007 gửi giám đốc, hiệu trưởng các trường đại học, trung học chuyên nghiệp, giám đốc các sở giáo dục, tất cả các sinh viên tham gia biểu t́nh, tụ hợp ,tuần hành đều vi phạm pháp luật và sẽ bị đ́nh chỉ thi cử, cắt học bổng, treo bằng tốt nghiệp, hoặc bị đuổi học.

 

Trường hợp 3: Trương Quốc Huy, Trương Quốc Nghĩa, Trương Quốc Tuấn và Đào Ngọc Anh

 

Vào ngày 19 tháng 10 năm 2005 vào lúc 3:30 giờ chiều với sự điều động và chỉ huy của Trung Tá Công An CSVN Trần Thành Tả Quận Phú Nhuận, trên 50 Công An Quận Phú Nhuận, CA Phường 4 và Phường 9 phối hợp cùng với công An Bộ chính trị  bao vây căn nhà 603 đường Nguyễn Kiệm Phường 9 Phú Nhuận . Công an đă bắt 4 bạn sau với lư do "Âm mưu lật đổ chính quyền":

 

-         Trương Quốc Huy

-         Trương Quốc Nghĩa

-         Trương Quốc Tuấn

-         Cô Đào Ngọc Anh (Lisa Phạm, người Mỹ gốc Việt)

 

4 bạn trên là thành viên tham gia diễn đàn Paltalk. Paltalk là nơi qui tụ hàng ngàn người Việt Nam đến để hội luận , nghe âm nhạc , ca hát , nghe thuyết giảng Giáo Lư, Phật Pháp v.v.

 

Trường hợp 4: chị Lê Thị Kim Thu

 

Ngày 7-11, Ṭa ánNhân Dân quận Ba Đ́nh (Hà Nội) mở phiên ṭa xét xử sơ thẩm chị Lê Thị Kim Thu  cư ngụ tại xă Vĩnh An, Vĩnh Cửu, Đồng Nai về tội „gây rối trật tự công cộng“.

 

Theo cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ba Đ́nh: „vào khoảng 7 giờ ngày 14-8-2008, Lê Thị Kim Thu cùng một số người khác có hành vi giương biểu ngữ khiếu kiện, mặc áo xô, cầm ảnh người đă mất la hét gây mất trật tự công cộng tại vườn hoa Mai Xuân Thưởng, phường Thuỵ Khuê, quận Tây Hồ. Bản thân Thu căng biểu ngữ có nội dung vu khống, ḥ hét... Khi lực lượng công an và tự quản đến yêu cầu đám đông giải tán, Thu và một số người khiếu kiện không chấp hành, tiếp tục đi bộ sang khu vực trước cửa Văn pḥng Chính phủ gây ùn tắc giao thông trên đường Hoàng Hoa Thám“.

 

Được biết chị Lê Thị Kim Thu đă khiếu kiện liên tục từ hơn 10 năm nay cùng với 25 nhóm dân Oan của 25 tỉnh, đi khiếu kiện nhà nước CHXHCNVN về việc các cán bộ CSVN chiếm tài sản , đất đai ..của các gia đ́nh một cách bất hợp pháp, (theo Nghị Định 47/CP của Nhà Nước CHXHCNVN về việc giải quyết và bồi thường thiệt hại tài sản, đất đai).

 

Trường hợp 5: Ngăn cản buổi họp mặt của Dân biểu Loretta Sanchez với vợ và mẹ một số nhà dân chủ

 

Ngày 05/04/2007 Dân biểu Loretta Sanchez mời vợ và mẹ một số nhà dân chủ đến tư gia đại sứ Marine tại Hà Nội dùng tiệc trà nhưng các bà đă bị công an mạnh bạo cản trở không cho họ được tới tư dinh của ông.

 

Đại sứ Marine kể lại rằng ông chứng kiến chừng 15 người đàn ông bao vây hai phụ nữ trước cổng, ra sức buộc họ rời khỏi khu vực này, rồi nhóm người đó nói lớn tiếng, chụp tay hai phụ nữ ấy kéo đi. Trước t́nh h́nh căng thẳng như vậy, nên ông đă can thiệp, khuyên các phụ nữ ấy trở về nhà. Hai phụ nữ này là chị Vũ Thuư Hà (vợ Bác sĩ Phạm Hồng Sơn) và chị Bùi Thị Kim Ngân, vợ nhà báo Nguyễn Vũ B́nh.

Đại sứ Marine cũng cho biết công an không cho mẹ của luật sư Lê Thị Công Nhân và các bà vợ của những luật sư Lê Quốc Quân và Nguyễn Văn Đài rời khỏi nhà. 

 

Đại sứ Michael Marine phải can thiệp khi công an lớn tiếng la lối rồi dùng tay xô đẩy không cho các bà Vũ Thuư Hà và Bà Bùi Thị Kim Ngân, trước tư gia ông tại Hà Nội hôm 5-4-2007

 

Trường hợp 6: Bắt giam những người kêu gọi biểu b́nh ngày 14/09/2008

 

Để trấn áp cuộc biểu t́nh của sinh viên ngày 14/09/2008 trước toà đại sứ Trung Quốc tại Hà nội nhân cuộc họp báo của họ nhằm tuyên bố „Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Trung Quốc“ công an CSVN đă bắt giam những sinh viên mà họ nghi ngờ kêu gọi và tổ chức biểu t́nh như Sinh viên Ngô Quỳnh bị bắt ngày 10/09/2008, anh Đỗ Duy Thông ở Thường Tín Hà Nội đă bị công an bắt đi lúc 10 giờ sáng ngày 13/9/2008, Sinh viên Bùi Văn Toản bị bắt vào lúc 8 giờ sáng ngày 14/9/2008 tại nhà trọ Bala – Bông Đỏ, Hà Đông Hà Nội vv…

 

Tại nhiều trường Đại Học tại Hà Nội, nhà trường đă ra thông báo sẽ đuổi học những sinh viên tham gia cuộc biểu t́nh này. Nhà trường cũng cử một số đoàn viên thanh niên ra tận ngơ 46 Hoàng Diệu để nhận mặt sinh viên trường ḿnh. Trong khi đó, an ninh đă tăng cường rất mạnh trong các trường Đại Học nhằm gia tăng không khí trấn áp và khủng bố tinh thần sinh viên.

 

Nhà giáo Nguyễn Thượng Long ở Hà Nội đă bị công an cấm ra khỏi nhà. Anh Trần Đức Thạch bị công an tra vấn tại nhà. Nhà giáo Vũ Hùng bị công an giam giữ, bị thẩm vấn trực tiếp bởi Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh, thiếu tướng công an Hoàng Kông Tư. 

 

 

Trường hợp 7: Bắt phái đoàn Rafto, cản trở không cho thăm viếng Hoà Thượng Thích Quảng Độ

 

Vào ngày 15/3/2007 bà Thérèse Jebsen và hai thành viên của Sáng hội Rafto đă bị 5 công an chận bắt tại Thanh Minh Thiền viện không cho phái đoàn này đến thăm viếng Ḥa Thượng Thích Quảng Độ.

 

Trường hợp 8: Đàn áp các cuộc đ̣i công lư của Dân Oan

 

Trong nhiều thập niên vừa qua nhà nước, các viên chức và đảng viên CSVN đă tịch thu nhà cửa, ruộng vườn, tài sản của hàng triệu người dân biến họ thành những người sống vô gia cư, vô nghề nghiệp. Hàng trăm ngàn người Dân Oan trong số bị cướp của đă đưa đơn khiếu tố từ chục năm qua từ cấp phường, xă đến cấp trung ương nhưng không được giải quyết. Cuộc biểu t́nh lớn nhất với khoảng 1000 dân oan trước Văn Pḥng ̀I  từ giữa tháng 6/2007 đến giữa tháng 7/2007 bị công an CSVN đă dùng lựu đạn cay và bạo lực giải tán ngày 18/07/2007. Nhiều người trong số những người khiếu kiện v́ tuyệt vọng đă tự thiêu để cảnh tỉnh chính quyền và lương tâm thế giới. Đây là 2 trường hợp thí dụ:  

1/  Thư Tuyệt Mạng của chị Phạm Thị Lộc, một nạn nhân của t́nh trạng khủng hoảng luật pháp ở Việt Nam. "Tôi xin sẵn ḷng làm ngọn đuốc thiêu sống trước cột cờ Ba Đ́nh, Hà Nội để công luận trong nước và quốc tế hiểu rơ về người dân Việt Nam bị tước bỏ nhân quyền nghiêm trọng như thế nào." 26.10.2005.

 

2/ Bà Phạm Thị Trung Thu đă tự thiêu v́ bị xử tù oan ức, nhà cửa bị tịch thu, chồng bị chết... "Sống mà như đă chết, thà tôi chết đi để Đảng và nhà nước biết c̣n có những mảnh đời bất hạnh bị bức bách xô đẩy đến bước đường cùng -không c̣n một lối thoát nào để sống - do một số người sử dụng quyền lực, nhân danh Đảng và nhà nước để làm việc sai trái." 29.09.2005

 

C̣n vô số trường hợp vi phạm khác như đối với LS Lê Thị Công Nhân, Kỹ sư Đỗ Nam Hải, LS Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Thị Chuyển (xă An ngăi Trung), Bà Nề (xă Tây), Phạm ngọc Thịnh ( xă Phú lễ), Ông Nhận ( xă Phú ngăi), Ông Cật (xă Tân Xuân), Anh Lộc (xă Phú ngăi), bà Chảnh (xă Phú ngăi), Ông Huỳnh quang Truy, bà Hồng  (xă An Thủy), Ông Dũng (xă An Ḥa Tây), Trần thị Dung (xă Mỹ Ḥa), Nguyễn Văn Nhon (xă long Hưng, H Châu Thành), Nguyễn Ngọc Nhuận (xă Phú Đông H g̣ công đông), Nguyễn văn Trinh (xă Phú Thạnh H g̣ công Tây), Trần thị thế(g̣ công  tây), Thị Quưt (xă Phú Đông), bà sáu cụt (xă Tân Thanh H cái bè), Nguyễn Văn Kính(xă Long Định H Châu Thành), Cao quế Hoa, Nguyễn văn chinh, bà Vơ  thị Thu ( 84 tuổi, Cai lậy ), Lê thị Nguyệt ( bị bắt), Dương thị thu Vân (xă Tân Hiệp H tân hiệp), Nguyễn thị Út (xă Mỹ Thuận H Ḥn Đất), Đỗ thị Tư (xă Mỹ Hiệp Sơn), Trần xuân Tiện (thị trấn Tân Hiệp), Huỳnh văn Quánh(xă Mỹ hiệp sơn H ḥn đất ), Dương thị Nở, Đỗ thị Tư (78 tuổi, xă Mỹ Lâm Ḥn Đất), Lưu thi thu duyên,Lưu thị thu Trang  ...

 

Và người ta có thể liệt kê được hàng vạn vi phạm khác, nếu quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí  được tôn trọng tại Việt Nam.

 

4. Vi phạm tự do bầu cử, tự do tham gia điều hành quốc gia

 

4.1. Quyền bầu cử, tự do tham gia điều hành quốc gia theo luật pháp CSVN

 

4.1.1. Luật Mặt Trận Tổ Quốc

 

Khác với các quốc gia khác, CHXHCNVN quy định mọi ai ứng cử vào hệ thống công quyền mọi cấp đều phải qua một tổ chức gọi là Mặt Trận Tổ Quốc. Tổ chức này phải tuân theo một bộ luật gồm 4 chương và 18 điều do quốc hội khóa X thông qua ngày 12 tháng 6 năm 1999.  Theo luật này, Mặt trận Tổ Quốc của nước Cộng hoà xă hội chủ nghĩa Việt Nam là một liên minh các tổ chức chính tri, các tổ chức chính trị-xă hội, các tổ chức xă hội, các sắc tộc, các tôn giáo, các tầng lớp xă hội và mọi cá nhân người Việt Nam trong lẫn ngoài nước dưới sự lănh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam:

 

Điều 1. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị

1- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xă hội, tổ chức xă hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xă hội, các dân tộc, các tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

2- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là bộ phận của hệ thống chính trị của nước Cộng hoà xă hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lănh đạo, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, nơi thể hiện ư chí, nguyện vọng, tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, nơi hiệp thương, phối hợp và thống nhất hành động của các thành viên, góp phần giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lănh thổ, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước v́ mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xă hội công bằng, văn minh.

 

Nhiệm vụ chính của Mặt trận Tổ Quốc là tập hợp toàn thể người Việt Nam trong và ngoài nước ”tăng cường sự nhất trí về chính trị”  và „động viên nhân dân phát huy quyền làm chủ, thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng”:

 

Điều 2. Nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có nhiệm vụ tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân; tuyên truyền, động viên nhân dân phát huy quyền làm chủ, thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, công chức nhà nước; tập hợp ư kiến, kiến nghị của nhân dân để phản ánh, kiến nghị với Đảng và Nhà nước; tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân; cùng Nhà nước chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân; tham gia phát triển t́nh hữu nghị, hợp tác giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước trong khu vực và trên thế giới.

 

Những điều khoản trên đă định rơ, mặt trận Tổ Quốc là một tổ chức chính trị ngoại vi của đảng cộng sản Việt Nam. Tuy nhiên mặt trận này lại được tài trợ hoàn toàn bởi ngân sách nhà nước:

 

Điều 16 (Luật MTTQ). Kinh phí hoạt động, tài sản của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

  1- Kinh phí hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam do ngân sách nhà nước cấp theo quy định của pháp luật.

  2- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được nhận, quản lư và sử dụng theo quy định của pháp luật tài sản mà Nhà nước giao cho Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tài sản do các tổ chức, cá nhân trong nước hoặc nước ngoài tặng cho

 

4.1.2. Luật Bầu cử quốc hội

 

Điều 5 luật bầu cử quốc hội CSVN qui định, các ứng cử viên cho đại biểu Quốc hội đều do mặt trận Tổ Quốc Việt Nam là một tổ chức trực thuộc đảng cộng sản Việt Nam lựa chọn và giới thiệu:

 

Điều 5 (Luật bầu cử quốc hội)[1]

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức hiệp thương lựa chọn, giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội; tham gia giám sát việc bầu cử đại biểu Quốc hội.

 

Luật bầu cử Quốc hội CSVN không cho phép mọi công dân được quyền ra ứng cử cách độc lập và tự do.

 

4.1.3. Hiến pháp

 

Một sự khác biệt lớn giữa Việt Nam và các nước trên thế giới là Hiến Pháp nước CHXHCN Việt Nam có một điều luật vượt ra ngoài mọi cấu trúc chính trị của các quốc gia khác trên thế giới:

 

Điều 4: Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác - LêNin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lănh đạo Nhà nước và xă hội.

 

Với điều luật này này đảng cộng sản Việt Nam đă tự phong cho ḿnh vai tṛ “lănh đạo nhà nước và xă hội” qua đó họ đă tước đoạt quyền tối thượng làm chủ đất nước của toàn dân Việt.

Mặt khác, điều 53 Hiến Pháp lại qui định quyền tham gia „quản lư Nhà nước và xă hội“: 

 

Điều 53 (Hiến Pháp)

Công dân có quyền tham gia quản lư Nhà nước và xă hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan Nhà nước, biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ư dân.

4.2. Luật bầu cử và điều 4 Hiến Pháp vi phạm Hiến pháp nước CHXNCNVN

Theo luật bầu cử CSVN, việc tuyển chọn ứng cử viên cho các cuộc bầu cử Quốc hội cũng như cho các cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp đều do Mặt trận Tổ Quốc là một tổ chức của đảng cộng sản Việt Nam đảm trách nhằm củng cố sự thống trị độc quyền của đảng cộng sản Việt Nam trên toàn cơi đất nước từ trung ương đến  địa phương.

Điều 53 Hiến Pháp nói rất rơ ràng, mọi người dân (không phân biệt chính kiến, tôn giáo, phái tính, sắc tộc vv...) đều có “quyền tham gia quản lư Nhà nước và xă hội” . Sự việc này mâu thuẫn hoàn toàn với luật bầu cử nước CHXNCNVN và điều 4 Hiến Pháp qui định đảng cộng sản Việt Nam  „là lực lượng lănh đạo Nhà nước và xă hội“ !

 

4.3. Luật bầu cử và điều 4 Hiến Pháp vi phạm Nhân quyền

 

Quyền được trực tiếp tham gia chính quyền hoặc tự do bầu người đại diện ḿnh tham gia chính quyền được qui định bởi điều 21 Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và điều 25 Công Ước Quốc Tế các Quyền Dân Sự và Chính Trị (CƯDSCT): 

 

Điều 25 (CƯDSCT):

Không bị kỳ thị (như đă quy định ở điều 2) và không bị giới hạn bất hợp lư, mọi công dân đều có quyền và có cơ hội:

a.       Được tham gia vào việc điều hành chính quyền trực tiếp hoặc qua những đại biểu do ḿnh tự do tuyển chọn.

b.      Được bầu cử và ứng cử trong những cuộc tuyển cử tự do và công bằng theo định kỳ, bằng phổ thông đầu phiếu kín, bảo đảm trung thực ư nguyện của cử tri.

c.       Được quyền b́nh đẳng tham gia công vụ trong nước.

 

Khoản a điều 25 Công Ước Quốc Tế các Quyền Dân Sự và Chính Trị mang tính chất quần chúng, xác định việc điều hành xă hội phải đặt trên nền tảng “Ư Dân”. Chính quyền phải do  toàn dân tham gia điều hành hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp qua các đại biểu, phải chịu trách nhiệm trước toàn dân, phải chịu kiểm soát bởi quốc dân và có thể bị toàn dân truất phế khi  không hành xử đúng nguyện vọng của họ.

            Đảng cộng sản với gần 3 triệu đảng viên, chỉ chiếm khoảng 3,5% dân số Việt Nam, không thể đại diện cho toàn thể 85 triệu công dân để quyết định mọi biến chuyển chính trị trong xă hội Việt Nam được.

 

Luật bầu cử và điều 4 Hiến Pháp của nước CHXHCN Việt Nam do đó không những vi phạm các điều 2, 25 và 26 của Công Ước Quốc Tế về các quyền dân Sự và Chính Trị, điều 21 Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền mà c̣n mâu thuẫn với điều 53 Hiến Pháp của chính họ đề ra.

 

5. Vi phạm quyền tự do tôn giáo của đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam 

 

5.1. Luật Quốc tế

 

Quyền tự do tôn giáo được qui định trong Công Ước Quốc Tế Về Những Quyền Dân Sự và Chính Trị tại điều 18. Đó là quyền được thực thi tôn giáo hay tín ngưỡng qua việc thờ phụng, hành đạo, nghi lễ hay giảng dạy tại tư gia hay công cộng, cá nhân hay tập thể.

 

Điều 18 (Công Ước Quốc Tế Về Những Quyền Dân Sự và Chính Trị, CƯQTCTDS):

1. Ai cũng có quyền tự do tư tưởng, tự do lương tâm và tự do tôn giáo. Quyền này bao gồm quyền tự do theo một tôn giáo hay tín ngưỡng và quyền tự do biểu thị tôn giáo hay tín ngưỡng qua sự thờ phụng, hành đạo, nghi lễ hay giảng dạy, hoặc riêng tư hoặc với người khác, tại nơi công cộng hay tại nhà riêng.

2. Không ai bị cưỡng bách tước đoạt quyền tự do lựa chọn tôn giáo hay tín ngưỡng.

3. Quyền tự do biểu thị tôn giáo hay tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn theo luật, v́ nhu cầu bảo vệ an toàn công cộng, trật tự công cộng, sức khỏe công cộng, đạo lư hay những quyền tự do căn bản của người khác.

4. Các quốc gia hội viên kư kết Công Ước này cam kết tôn trọng quyền của cha mẹ hay người giám hộ trong việc giáo dục các con về tôn giáo hay đạo lư theo tín ngưỡng của họ.

 

5.2. Luật của CS Việt Nam

 

Thế nhưng, Pháp lệnh về Tín ngưỡng Tôn giáo của CSVN lại đưa một tổ chức của ḿnh xen vào hoạt động của các tôn giáo. Đó là Mặt trận Tổ quốc. Mặt trận này đóng vai tṛ một cơ quan hành pháp kiêm tư pháp theo điều 7 của Pháp Lệnh về Tín Ngưỡng, Tôn Giáo:

 

Điều 7 (Pháp Lệnh về Tín Ngưỡng, Tôn Giáo (PLTNTG))

1. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của ḿnh có trách nhiệm:

a) Tập hợp đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo và đồng bào không có tín ngưỡng, tôn giáo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; 

b) Phản ảnh kịp thời ư kiến, nguyện vọng, kiến nghị của nhân dân về các vấn đề có liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

c) Tham gia tuyên truyền, vận động chức sắc, nhà tu hành, tín đồ, người có tín ngưỡng, các tổ chức tôn giáo và nhân dân thực hiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo;

d) Tham gia xây dựng và giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.

2. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của ḿnh, các cơ quan nhà nước chủ động phối hợp với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong việc tuyên truyền, vận động và thực hiện các chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.

 

Các hoạt động của tôn giáo chỉ được thực hành tại các cơ sở tôn giáo như chùa miếu, nhà thờ, đền đài, thánh thất. Những hoạt động tôn giáo nơi công cộng được chỉ được thực hành nếu có sự chấp thuận của UBND huyện, quận, thị xă:

 

Điều 11

1. Chức sắc, nhà tu hành được thực hiện lễ nghi tôn giáo trong phạm vi phụ trách, được giảng đạo, truyền đạo tại các cơ sở tôn giáo.

2. Trường hợp thực hiện lễ nghi tôn giáo, giảng đạo, truyền đạo ngoài quy định tại khoản 1 Điều này phải có sự chấp thuận của Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xă, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Uỷ ban nhân dân cấp huyện) nơi thực hiện.

 

Đặc biệt, các tổ chức tôn giáo cơ sở như khuôn hội (Phật giáo), xứ đạo (Công giáo) phải nộp chương tŕnh hoạt động hàng năm của tổ chức ḿnh cho UBND xă, phường, thị trấn nơi tổ chức cơ sở đó tọa lạc duyệt xét, chấp thuận:

 

Điều 12

1. Người phụ trách tổ chức tôn giáo cơ sở có trách nhiệm đăng kư chương tŕnh hoạt động tôn giáo hàng năm diễn ra tại cơ sở đó với Uỷ ban nhân dân xă, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Uỷ ban nhân dân cấp xă); trường hợp tổ chức hoạt động tôn giáo ngoài chương tŕnh đă đăng kư th́ phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận.

2. Thẩm quyền chấp thuận việc tổ chức lễ hội tín ngưỡng do Chính phủ quy định.

 

Mọi tôn giáo tại Việt Nam chỉ được phép thành lập và hoạt động, nếu được nhà nước CSVN chấp thuận (Thủ Tướng Chính phủ, Chủ tịch UBND Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương). Đơn xin công nhận phải nộp tại cơ quan hành pháp. Việc này được qui định ở điều 16:

 

Điều 16

1. Tổ chức được công nhận là tổ chức tôn giáo khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Là tổ chức của những người có cùng tín ngưỡng, có giáo lư, giáo luật, lễ nghi không trái với thuần phong, mỹ tục, lợi ích của dân tộc;

b) Có hiến chương, điều lệ thể hiện tôn chỉ, mục đích, đường hướng hành đạo gắn bó với dân tộc và không trái với quy định của pháp luật;

c) Có đăng kư hoạt động tôn giáo và hoạt động tôn giáo ổn định;

d) Có trụ sở, tổ chức và người đại diện hợp pháp;

đ) Có tên gọi không trùng với tên gọi của tổ chức tôn giáo đă được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận.

 

2. Thẩm quyền công nhận tổ chức tôn giáo:

a) Thủ tướng Chính phủ công nhận tổ chức tôn giáo có phạm vi hoạt động ở nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

b) Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương công nhận tổ chức tôn giáo có phạm vi hoạt động chủ yếu ở một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

 

3. Việc đăng kư hoạt động tôn giáo quy định tại điểm c khoản 1 Điều này; hoạt động tôn giáo của tổ chức đă đăng kư và tŕnh tự, thủ tục công nhận tổ chức tôn giáo do Chính phủ quy định.

 

Vấn đề phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm của tôn giáo phải được sự thoả thuận trước với cơ quan nhà nước được qui định trong điều 22:

 

Điều 22 (PLTNTG)

1. Việc phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử trong tôn giáo được thực hiện theo hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo và đảm bảo điều kiện quy định tại khoản 2 Điều này; trường hợp có yếu tố nước ngoài th́ c̣n phải có sự thỏa thuận trước với cơ quan quản lư nhà nước về tôn giáo ở trung ương.

 

2. Người được phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử phải đáp ứng các điều kiện sau đây mới được Nhà nước thừa nhận:

a) Là công dân Việt Nam , có tư cách đạo đức tốt;

b) Có tinh thần đoàn kết, hoà hợp dân tộc;

c) Nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật.

 

3. Việc cách chức, băi nhiệm chức sắc trong tôn giáo được thực hiện theo hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo.

 

4. Tổ chức tôn giáo có trách nhiệm đăng kư về người được phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử; thông báo về việc cách chức, băi nhiệm chức sắc trong tôn giáo với cơ quan quản lư nhà nước có thẩm quyền.

 

Các tôn giáo chỉ được phép mở trường đào tạo tu sĩ hoạt động tôn giáo với sự chấp thuận của Thủ Tướng Chính Phủ:

 

Điều 24

1. Tổ chức tôn giáo được thành lập trường đào tạo, mở lớp bồi dưỡng những người chuyên hoạt động tôn giáo.

 

2. Việc thành lập trường đào tạo những người chuyên hoạt động tôn giáo phải được sự chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ.

 

Việc chiêu sinh của trường đào tạo tôn giáo phải thực hiện theo nguyên tắc công khai, tự nguyện của thí sinh và điều lệ hoạt động của trường đă được phê duyệt.

 

Môn học về lịch sử Việt Nam , pháp luật Việt Nam là các môn học chính khoá trong chương tŕnh đào tạo tại trường đào tạo những người chuyên hoạt động tôn giáo.

 

3. Việc mở các lớp bồi dưỡng những người chuyên hoạt động tôn giáo phải được sự chấp thuận của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nơi mở lớp.

 

4. Tŕnh tự, thủ tục thành lập, giải thể trường đào tạo, mở lớp bồi dưỡng tôn giáo do Chính phủ quy định.

 

5.3. Những vi phạm của luật tôn giáo của CSVN

 

Pháp lệnh tôn giáo và Tín Ngưỡng của nhà nước CSVN đă vi phạm điều 18 của Công Ước Quốc Tế Về Những Quyền Dân Sự và Chính Trị những điểm sau đây:

-          Dùng một tổ chức của đảng CSVN để điều hành, kiểm soát, chi phối tôn giáo (diều 7, PLTGTN)

-          Mọi hoạt động tôn giáo chỉ được phép cử hành tại các cơ sở tôn giáo. Hoạt động nơi công cộng phải xin phép tại UBND Huyện, quận. (điều 11)

-          Mọi hoạt động của tôn giáo tại cơ sở trong năm phải báo cáo cho UBND xă, phường, thị trấn (điều 12)

-          Tôn giáo chỉ được thành lập và hoạt động, nếu được Thủ Tướng, Chủ tịch UBND Tỉnh, thành phố trược thuộc TƯ chấp thuận (điều 16)

-          Phong chức, phẩm, bổ nhiệm trong tôn giáo phải được nhà nước CSVN chấp thuận (điều 22)

-          Trường đào tạo các tu sĩ, tu sinh chỉ được mở nếu có sự chấp thuận của Thủ tướng (điều 24)

 

5.4. Những vi phạm đối với Phật Giáo

 

5.4.1. Sơ lược về Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất

Trước ngày 30/04/1975 Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN) hoạt động không những về mặt tôn giáo mà c̣n rất mạnh mẽ về mặt dân sự. Giáo Hội cho thành lập Trường Đại học, nhà xuất bản, trường trung tiểu học, cô nhi viện, bệnh xá và các tổ chức thanh thiếu niên Phật tử vv... Tổ chức Gia đ́nh Phật tử được đặt dưới quyền điều hành của Tổng vụ Thanh niên thuộc viện Hóa đạo.

Sau khi chiếm trọn miền Nam Việt Nam, nhà nước CSVN khi ấy với danh hiệu „chính phủ lâm thời Cộng ḥa Miền Nam Việt Nam“ tịch thu nhiều cơ sở của Giáo Hội. Ngay từ cuối năm 1975 đă có những xung đột giữa Giáo hội và chính quyền, mười hai Phật tử và tăng ni đă tự thiêu ở chùa Dược Sư, Cần Thơ để phản đối lệnh cấm treo cờ Phật giáo cùng những điều lệ bó buộc khác. Sang tháng 3 năm 1977 khi nhà nước Cộng ḥa Xă hội Chủ nghĩa Việt Nam trưng dụng Cô nhi viện Quách Thị Trang, Giáo hội Thống nhất phản kháng mạnh mẽ, Phật tử xuống đường phản đối. Viện Đại học Vạn Hạnh sau đó bị nhà nước buộc phải đóng cửa và tịch thu. Ban lănh đạo Giáo hội gửi thư đ̣i thực thi tự do tôn giáo th́ nhà cầm quyền CSVN phản ứng với lệnh bắt giam sáu thành viên lănh đạo, trong đó có các Ḥa thượng Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ, và Thích Thiện Minh. Để phản đối hành động đàn áp này Hoà Thượng Thích Đôn Hậu tuyên bố từ chức đại biểu Quốc hội và nhận lời thỉnh mời của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất làm Chánh Thư Kư Viện Tăng Thống.

Đầu năm 1977, Giáo Hội ra Thông Bạch kêu gọi Bảo vệ Chư Tăng Ni, Phật Tử Bảo Vệ Đạo Pháp và Nhân Quyền ở Việt Nam. Nhà cầm quyền CSVN cho rằng, Hoà Thượng Thích Thiện Minh, Cố Vấn Ban Chỉ Đạo Viện Hóa Đạo đă chỉ đạo mọi việc nên trục xuất Hoà Thượng ra khỏi Trung Tâm Quảng Đức. Ngày 13/4/1978 họ đă bắt giam Ḥa Thượng vào Trại giam số 4 - Phan Đăng Lưu, gần Chợ Bà Chiểu. Công an cộng sản bắt Hoà Thượng  phải cởi áo tu, Hoà Thượng khẳng khái trả lời rằng: ''Minh xuất gia từ năm 12 tuổi, đă quen mặc nâu ṣng rồi, khó bận thứ khác''. Họ lột hết quần áo, phạt 7 ngày đêm không áo quần và dùng h́nh phạt để tra tấn. Cuối cùng họ áp giải Ngài về trại tù Hàm Tân. Ở trong tù Ngài tiếp tục bị hành hạ, tra tấn và ĺa trần ngày 17 tháng 10 năm 1978 trong trại tù. Giáo Hội nghe tin cử một phái đoàn ra Hàm Tân nhận diện. Thi thể Ngài bọc trong mảnh chiếu, mặt tím bầm. Giáo Hội xin được đưa về mai táng họ không chấp nhận. Xin đọc một hồi kinh cầu siêu, họ cũng từ chối.

Trong những ngày 04/11 đến 07/11/1981 một hội nghị đại biểu thống nhất Phật giáo Việt Nam Ban do đảng, nhà nước CSVN và ban dân vận Trung ương sắp xếp và tổ chức tại chùa Quán Sứ,  Hà Nội . Hội nghị tập trung 165 tăng ni, cư sĩ Phật giáo tiêu biểu cho 9 tổ chức và hệ phái của Phật giáo trong cả nước. Sau hội nghị này „Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam“ được thành lập, Giáo Hội này là thành viên của Mặt Trận Tổ Quốc dưới sự lănh đạo của đảng cộng sản Việt Nam. 

Trong cuộc gặp gỡ với phái đoàn Ủy Hội tôn giáo quốc tế của Hoa Kỳ ngày 23/10/2007 tại Hà Nội, Thứ trưởng Công an CSVN Nguyễn Văn Hưởng tuyên bố: "Giáo hội Phật giáo Việt Nam là tổ chức Phật giáo chính thức ở Việt Nam từ năm 1981 nên hoạt động của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất là bất hợp pháp.“

Ông Đỗ Trung Hiếu, bí danh Mười Anh, Chính ủy của Đoàn công tác thống nhất Phật giáo Việt Nam thuộc Mặt trận Tổ quốc Trung ương, tức người chiụ trách nhiệm „đảng hoá“ các Giáo Hội Phật Giáo tại Việt Nam trong đó có Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, là một Giáo Hội lớn nhất và uy tín nhất khi người cộng sản chiếm miền Nam Việt nam vào năm 1975. Ông Hiếu đă tiết lộ trong mùa Phật Đản năm 1994 rằng:

"Nội dung đề án là biến hoàn toàn Phật giáo Việt Nam thành một hội đoàn quần chúng. C̣n thấp hơn hội đoàn, v́ chỉ có Tăng, Ni, không có Phật tử ; chỉ có tổ chức bên trên không có tổ chức bên dưới, tên gọi là Hội Phật giáo Việt Nam (...) Nội dung hoạt động là lo việc cúng bái chùa chiền, không có hoạt động ǵ liên quan tới quần chúng và xă hội (...) Lấy chùa làm cơ sở chứ không phải lấy quần chúng Phật tử làm đơn vị của tổ chức Giáo hội".

"Thực sự đại biểu là giữa Phật giáo của ta và Gíao hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Ban Vận động Thống nhất Phật giáo Việt Nam đều là đại biểu dự Đại hội, trong đó đại biểu của ta đa số. Chín tổ chức và hệ phái Phật giáo, Gíao hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất là một, c̣n lại tám với những danh nghĩa khác nhau, nhưng tất cả đều hoặc là ta hoặc là chịu sự lănh đạo của Đảng".

(...) "Cuộc thống nhất Phật giáo lần này BÊN NGOÀI DO CÁC H̉A THƯỢNG GÁNH VÁC, NHƯNG BÊN TRONG BÀN TAY ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM XUYÊN SUỐT QUÁ TR̀NH THỐNG NHẤT ĐỂ NẮM VÀ BIẾN TƯỚNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM TRỞ THÀNH MỘT TỔ CHỨC BÙ NH̀N CỦA ĐẢNG".

Ḥa thượng Thích Huyền Quang tiếp nhiệm  Di Chúc của Hoà Thượng Thích Đôn Hậu vào năm 1992 làm Xử lư Viện Tăng thống. Sau khi được Suy Tôn làm Đệ tứ Tăng thống vào năm 2003, Ngài càng phấn đấu nhằm phục hoạt Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất nhiều hơn nữa. Ngoài ra Ngài c̣n đ̣i hỏi nhà cầm quyền CSVN phải tôn trọng và thực thi Tự Do Tôn Giáo, Dân Chủ, phải sám hối những sai lầm trước toàn dân và trả lại Linh Quyền cho người đă chết và Nhân Quyền cho người c̣n sống.

Giáo hội đ̣i hỏi quyền Tự Do Tôn Giáo, Hành Đạo và phục hoạt Giáo Hội không lệ thuộc Mặt Trận Tổ Quốc của Đảng và Nhà Nước nhưng không được đáp ứng. Điển h́nh là Tháng Năm 1994 khi Giáo Hội tổ chức cứu trợ nạn nhân băo lụt miền Tây, chính quyền ra lệnh tịch thâu toàn bộ hàng cứu trợ và chận bắt phái đoàn gồm 30 tăng ni và 300 Phật tử. Trong vụ này Ḥa thượng Thích Quảng Độ bị kết án năm năm, Thượng tọa Thích Không Tánh, Thích Nhật Ban và cư sĩ Nhật Thường bị ba đến năm năm tù.

Đức Đệ Tứ Tăng Thống Thích Huyền Quang sau hơn 27 năm bị chế độ CS tù đày và quản chế, nhân lúc Ngài già yếu (89 tuổi) nhà cầm quyền CSVN đă cho nhiều viên chức cao cấp như  tướng Trần Tư, Thứ trưởng công an Nguyễn Văn Hưởng đến ép Ngài phải từ bỏ GHPGVNTN để tham gia Giáo Hội Phật Giáo của nhà Nước nhưng Ngài đă cương quyết khước từ. Ngày 27.5.2008 v́ bị yếu tim, dịch trong phổi nên Ngài phải vào bệnh viện Đa khoa Quy Nhơn. Cho tới ngày xuất viện, không biết với lư do ǵ cứ cách khoảng 1,2 ngày họ cho Y tá rút máu Ngài. Do t́nh h́nh chữa trị không mấy thuyên giảm mặc dù được chuyển vào pḥng cấp cứu rất cần khẩn cấp những y sĩ chuyên môn trong một bệnh viện hiện đại mà chỉ có thể t́m thấy ở Saigon. Đại Lăo Hoà Thượng Thích Quảng Độ cùng Chư Tôn Hội Đồng Lưỡng Viện mong muốn rước Ngài vào bệnh viện Pháp Việt ở Sàig̣n chữa trị, nhưng nhà cầm quyền CSVN không cho, vẫn một mực quản chế Ngài tại bệnh viện Đa khoa Quy Nhơn. Lúc 15:30 chiều ngày 04.07.2008 nhà cầm quyền CSVN cho rước Ngài về lại Tu viện Nguyên Thiều nơi Ngài cư trú. Không đầy 24 tiếng sau, vào lúc 13giờ ngày 05.07.2008 Ngài Viên Tịch.

Hoà Thượng Thích Quảng Độ tiếp nhiệm chúc thư của Đức Tăng Thống Thích Huyền Quang làm Xử lư Thường vụ Viện Tăng Thống.

5.4.2 Mười trường hợp tiêu biểu đàn áp Giáo Hội Phật Giáo Thống Nhất

Trường hợp 1: chùa Phước Huệ ở Quảng Trị

Ngày 01/04/2008 hơn 300 công an và chính quyền tỉnh Quăng Trị bao vây quanh và phá sập cổng chùa chùa Phước Huệ, Quảng Trị. Nội bất xuất ngoại bất nhập, họ ngang nhiên đè Thầy Từ Giáo xuống giữa sân, lùa tăng chúng vào trong pḥng bóp cổ và dùng dao để khống chế, rồi ngang nhiên leo tường đột nhập vào pḥng ngủ và pḥng làm việc của Thầy để lục soát và lấy đi 83 triệu đồng của đạo hữu cúng dường để làm sân chùa và hồ sen. Lấy đi 1300 USD của đạo hữu cúng dường làm Tượng Đức Quán Thế Âm trên hồ bán nguyệt. Uy hiếp các điệu để lấy máy vi tính, điện thoại, máy ảnh và tàn bạo nhất là đoạt luôn cả tiền ăn của Tăng Chúng do thân mẫu Thầy Từ Giáo cất giử.

 

Trường hợp 2. Hoà Thượng Thích Không Tánh

 

Hoà Thượng Thích Không Tánh là Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Từ Thiện Xă Hội của GHPGVNTN đă ra Hà Nội ngày 23/8/2007 nhằm cứu trợ những Dân oan khiếu kiện đang bị thiếu thốn lương thực nhưng đă bị công an Hà Nội ngăn cản công cuộc cứu trợ và bắt  Ngài  khi Hoà Thượng đang phát tiền cứu trợ cho Dân Oan tại  Hà Nội.

 

Theo tường thuật của Hoà Thượng Thích Không Tánh khi Ngài đang khởi sự phát những xuất tiền cho tập thể Dân oan khiếu kiện tại số 110 đường Cầu Giấy nơi đặt Trụ sở Tiếp Dân của chính phủ, th́ công an tràn ngập dày đặc vây bắt. Công an bẻ quặt hai cánh tay Hoà Thượng, giật các phong b́ chứa tiền phân phát và dùng vũ lực bắt đi như bắt tội nhân h́nh sự. Hai ba công an kẻ nắm áo, kẻ nách tay, kẻ giật đứt xâu chuỗi bồ đề đeo trên cổ đẩy vào đồn Công an trước trụ sở Tiếp Dân. Tại đây chờ đợi chừng nửa giờ, th́ có xe bít bùng đến chở đi, hai công an ngồi kèm sát hai bên.

Họ mang Hoà Thượng về căn nhà số 1/34 đường Âu Cơ. Tại đây dẫn Hoà Thượng lên lầu 2. Ba cán bộ Công an, tên Minh, Trung và Vệ, bắt đầu làm việc hỏi cung. Nhưng Hoà Thượng Thích Không Tánh phản đối, đ̣i hỏi lư do bắt giữ mà không có giấy phép, không lư do. Hoà Thượng nói "Tôi thừa lệnh Ḥa thượng Viện trưởng Thích Quảng Độ ra đây cứu trợ đồng bào gặp khó khăn thiếu thốn v́ ăn chực nằm chờ khiếu kiện. Giáo hội chúng tôi chỉ công khai làm việc từ thiện xă hội, không có ǵ phạm pháp. Sao lại ngăn cấm tôi, lại c̣n cưỡng bức bắt giam phi pháp ?".

 

Sau cuộc thẩm vấn trên thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng, Thứ trưởng Công an vào gặp Hoà Thượng. Trong hơn một giờ đồng hồ, ông ta dùng những lời lẽ khiếm nhă vu khống Ḥa thượng Thích Quảng Độ, Viện trưởng Viện Hóa Đạo, và phát ngôn nhân của Viện Hóa Đạo là ông Vơ Văn Ái, vu khống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) "âm mưu lật đổ chính quyền theo lệnh ngoại bang".

Ngày 24/08/2008 Hoà Thượng Thích Không Tánh bị áp tải về lại Sàig̣n.

 

Trường hợp 3: Chiến dịch mạ lỵ  Hoà thượng Thích Quảng Độ trên báo chí , hệ thống truyền h́nh, truyền thanh trong tháng 8 năm 2007

 

Từ ngày 24.08.2007 đến cuối tháng 8.2007 các đài phát thanh và các báo Nhân Dân, Quân đội Nhân dân, Hà Nội Mới, Công an Nhân dân, Thanh Niên, Lao Động, Tuổi Trẻ, v.v... đă đăng một loạt bài vu cáo Ḥa thượng Thích Quảng Độ và GHPGVNTN

„nhận tiền nước ngoài, mua chuộc, kích động bọn xấu, bọn tay chân các thế lực thù địch nước ngoài, biểu t́nh chống phá nhà nước...“.

 

Hoà Thượng Thich Quang Do bị công an bắt giam. H́nh ảnh: IBIB

 


Trường hợp 4. Chiến dịch Thẩm vấn các Vị Lănh Đạo GHPGVNTN 

 

Song song với chiến dịch vu cáo vô bằng chứng trên báo chí của Đảng và Nhà nước, các Ủy ban Nhân dân Phường đă triệu tập đi làm việc hàng giáo phẩm và thành viên GHPGVNTN, như trường hợp Đại lăo Ḥa thượng Thích Quảng Độ, các Thượng tọa Thích Viên Định, Thích Không Tánh, Thích Chơn Tâm, các Đại đức Thích Viên Hỷ, Thích Đồng Minh, hoặc tổ chức biều t́nh ở Tiền Giang tố cáo các Thượng tọa Thích Minh Nguyệt, Thích Huệ Thông và Thích Huệ Minh, và sách nhiễu Thượng tọa Thích Từ Giáo ở Quảng Trị.

 

Ngày 27.8.2007, Thượng tọa Thích Chơn Tâm, Tổng vụ trưởng Tổng vụ Giáo dục, cùng hai Đại đức Thích Viên Hỷ và Thích Đồng Minh đến làm việc tại cơ quan công an Phường 7, Quận B́nh Thạnh, Saigon. Tại đây phía Công an gồm có ông Chấn, Công an nội vụ, ông Nguyễn Xuân, Thượng tá Công an PA38 (tức Cục bảo vệ Chính trị), ông Phạm Minh Tuấn, Trưởng Công an Phường 7, và hai ông Minh, Tốt công an quận B́nh Thạnh. Nội dung làm việc Công an lên án Đại lăo Ḥa thượng Thích Quảng Độ xưng danh GHPGVNTN trái phép, lợi dụng việc cứu trợ Dân oan "sách động dân chúng biểu t́nh chống phá Nhà nước", "gây rối an ninh trật tự". Rồi yêu cầu Thượng tọa Thích Chơn Tâm và hai Đại đức cùng lên án Ḥa thượng Thích Quảng Độ cứu trợ Dân oan là trái pháp luật. Nhưng đă bị ba vị Tăng sĩ phản đối, không chấp nhận sự mớm ư lên án của công an. Thượng tọa Thích Chơn Tâm yêu cầu công an trưng văn bản nào của Nhà nước quy định GHPGVNTN bất hợp pháp ? Công an không thể trả lời.

 

Ngày 28.8.2007, công an Xă Nhơn Thành, Huyện An Nhơn, tỉnh B́nh Định, mời Thượng tọa Thích Viên Định, Phó Viện trưởng Viện Hóa Đạo, đi làm việc. Tại đây công an cũng tố cáo GHPGVNTN cứu trợ Dân oan nhằm "xúi giục biểu t́nh chống chính phủ" và ra lệnh trục xuất Thượng tọa về Saigon. Thượng tọa phản đối và nói rằng tôi ra Tổ đ́nh Thập Tháp để tổ chức đại lễ Vu Lan, muốn trục xuất phải cho biết lư do và tŕnh Quyết định hẳn hoi. Công an Phường trả lời sẽ xin lệnh trên. Chín giờ ngày 28.8.2007 công an đến ra lệnh miệng cấm Thượng tọa Thích Viên Định không được ra khỏi chùa.

 

Trường hợp 5: Thượng tọa Thích Thiện Minh

 

Thượng tọa Thích Thiện Minh, tên tục là Huỳnh văn Ba sinh năm 1953 tại Bạc Liêu, là Chánh trụ tŕ Chùa Vĩnh B́nh, Đại diện Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN) Tỉnh Bạc Liêu bị nhà cầm quyền CSVN giam cầm hơn 26 năm (từ năm 1979 đến năm 2005).

 

Sau khi ra tù, ngôi chùa Vĩnh B́nh mà Thượng tọa làm trụ tŕ bị nhà nước chiếm dụng, phá bỏ để xây chợ và trường học. Thượng tọa Thích Thiện Minh đă viết đơn khiếu nại gửi khắp các cơ quan từ địa phương ra đến trung ương Hà Nội. Thoạt đầu được hứa hẹn cứu xét. Nhưng từ khi Thượng tọa tham gia Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, là bắt đầu một chuỗi kỳ thị, sách nhiễu, đàn áp, hăm dọa. Nhà nước ra điều kiện phải từ bỏ GHPGVNTN và tham gia Giáo Hội Phật Giáo của đảng và nhà nước họ sẽ trả lại ngôi chùa Vĩnh B́nh cho Thượng Toạ.

 

Phật Tử quyên góp được một số tiền để Thượng Toạ cất một Tịnh Thất trong vườn nhà người em tọa lạc tại 89/353 đường Cách Mạng, Khóm 10, Phường 1,Thị xă Bạc Liêu. Nhưng ngày15/3/2007, nhà cầm quyền thị xă Bạc Liêu khởi sự việc đập phá ngôi Tịnh thất của Thượng tọa Thích Thiện Minh dưới sự chỉ huy của các ông : Nguyễn Minh Quân, Phó công an thị xă; Vơ Minh Hưởng, Phó pḥng Quản Lư Đô thị; Nguyễn Kim Đồng, Trưởng công an Phường 1; Bí Thư ; Chủ tịch; Phó chủ tịch phường 1; Cảnh Sát Cơ Động (trang bị dùi cui, roi điện, súng ống, nón bảo hiểm); Cơ quan Thị đội, thị xă Bạc Liêu; Cảnh sát Giao thông để giải tán đám đông dân chúng trên đường vào nhà; Cơ quan dân pḥng các phường trong thị xă Bạc Liêu; Đoàn thể Phụ Nữ; Công an PA38 An ninh chính trị Tỉnh; Y sĩ, Y tá, xe cứu thương; Đội bốc vác trên 30 người mang theo máy hàn, máy cắt sắt, hàn gió đá, búa đục các loại ; Các nhà báo, máy quay phim, đài truyền h́nh Bạc Liêu; phối hợp cùng các ban ngành tổng số khoảng 500 người chật kín từ đầu đường đến nhà. 

 

V́ sự thường xuyên sách nhiễu và khủng bố bởi công an Tỉnh Bạc Liêu nên Thượng Toạ đành phải bỏ quê nhà lên Sàig̣n sống với một người cháu tại Hóc Môn.  

 

Trường hợp 6: Ḥa Thượng Thích Nhật Ban và Thượng Tọa Thích Viên Giác

 

Ḥa Thượng Thích Nhật Ban, Chánh Đại Diện GHPGVNTN Tỉnh Đồng Nai và Thượng Tọa Thích Viên Giác, Đặc Ủy Từ Thiện Xă Hội tỉnh Đồng Nai trong mấy năm qua bị công an theo dơi, canh gác,hành hung không cho ra khỏi Chùa . Nhiều lần bị công an ném đá vào chùa, gỡ bỏ bảng Tên của Chùa và ngăn cấm không cho tham gia GHPGVNTN.

 

Cuối tháng 10/2008, Ḥa Thượng Nhật Ban bị công an tỉnh Đồng Nai và Bà Rịa chận bắt khi Ḥa Thượng trên đường đến thăm một ngôi chùa khác nằm trong địa hạt tỉnh Bà Rịa. Họ  đem Hoà Thượng về đồn công an hành hung, đấm đá, tát tai vv… từ 12 giờ trưa đến 5 giờ chiều. Hiện nay (13/11/2008) đầu, mặt và khắp thân thể của Hoà Thượng vẫn c̣n những vết thương bầm đen.

 

Trường hợp 7. Thượng toạ Thích Trí Khải và Thượng toạ Thích Như Tấn

 

a/ Ngày 29/4/2008 Ban Đại Diện Phật Giáo Nhà nước huyện Đơn Dương kết hợp với Mặt trận Tổ quốc, Ban Dân vận, Ban Tôn giáo chính phủ, Huyện ủy đảng Cộng sản, Công an và một số thanh niên đầu gấu đă đến chùa Giác Hải do TT Thích Trí Khải trụ tŕ. Trong lúc TT Trí Khải đang dự đám tang một Phật tử tại thị trấn Thạnh Mỹ không có ở chùa họ dùng ḱm bẻ tám ổ khoá từ cổng chùa vào đến các liêu pḥng. Sau đó ngang nhiên chiếm chùa và ngồi họp. Đang họp nửa chừng, Thượng tọa Thích Trí Khải trở về chùa thấy cảnh cướp chùa giữa ban ngày liền phản đối, nhưng được trả lời rằng Văn pḥng Đại diện Giáo hội Phật giáo Nhà nước đặt tại đây nên họ dùng để họp hành.

 

Được biết ban chỉ đạo Công tác tôn giáo thuộc Đảng Cộng sản Việt Nam, Huyện uỷ Đơn Dương ra “Kế hoạch Mật” mang số 44-KH/BCĐ đ̣i “đấu tranh với Thượng tọa Thích Trí Khải” cho rằng Thượng tọa “lợi dụng Giáo hội Phật giáo Việt Nam hoạt động cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất”. “Kế hoạch Mật” này nhằm chỉ đạo các cơ quan công quyền, công an và quần chúng Phật tử trục xuất Thượng tọa Thích Trí Khải ra khỏi chùa Giác Hải là nơi Thượng tọa chủ tŕ và làm sở hữu chủ, đồng thồi cưỡng chiếm chùa Giác Hải để làm Lễ đài tại thị trấn Thạnh Mỹ, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng, cho Đại lễ Phật Đản Tam hợp LHQ 2008.

“Kế hoạch Mật” kéo dài từ cuối năm 2007 đến tháng tư năm 2008 mà chỉ thu được mười ba chữ kư Phật tử kiến nghị Giáo hội Phật giáo Nhà nước trục xuất Thượng tọa
Thích Trí Khải.

 

Trong khi ấy, một Kiến nghị khác của quần chúng nhân dân viết ngày 19.3.2008 với chữ kư của 239 Phật tử chùa Giác Hải kư tên bảo vệ Thượng toạ Thích Trí Khải, chống sự vu cáo hàm hồ của Giáo hội Phật giáo Nhà nước.

 

b/Thượng toạ Thích Như Tấn, Trưởng ban Đại diện GHPGVNTN tỉnh Lâm Đồng và Hoà Thượng Thích Tâm Măn ở chùa Sư Tử Hống bên huyện Đức Trọng được Thượng toạ Thích Trí Khải gọi điện thoại thông báo việc công an bẻ khoá chiếm chùa Giác Hải, hai vị tức tốc sang chùa Giác Hải quan sát t́nh h́nh để giúp đỡ can thiệp.

Đến nơi, Thượng tọa Thích Như Tấn và Ḥa thượng Thích Tâm Măn gặp hai Đại đức Thích Chúc Hiện, Phó Ban Đại diện Giáo hội Nhà nước và Thích Phương Ḥa hỏi cho ra sự t́nh. Nhưng Đại đức Thích Phương Ḥa, đệ tử của Ḥa thượng Thích Pháp Chiếu, Trưởng Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Nhà nước tỉnh Lâm Đồng, liền nói: “Thượng tọa ở huyện Đức Trọng không được quyền can thiệp vào Phật sự huyện Đơn Dương”. Sau đó Đại đức gọi điện thoại di dộng cho Công an huyện đến can thiệp. Công an huyện đến chùa Giác Hải đưa giấy mời Thượng tọa Thích Như Tấn và Ḥa thượng Thích Tâm Măn về đồn công an làm việc. Hai vị không chịu đi, lấy cớ không làm điều ǵ vi phạm pháp luật. Nếu muốn mời làm việc th́ phải cho biết lư do. Công an liền ra lệnh cho một bọn đầu gấu (v́ không mặc sắc phục) áp tới xốc nách Thượng tọa Như Tấn và Ḥa thượng Tâm Măn lôi vào xe chở về đồn công an.

 

Trong suốt buổi thẩm vấn công an không trưng một văn bản nào, mà chỉ kết án hai vị giáo phẩm GHPGVNTN ba tội:

 

-         “đă mạ lỵ” Ban Đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam (tức Giáo hội Nhà nước),

-         gây “mất trật tự công cộng” tại huyện Đơn Dương,

-         kết án GHPGVNTN là “bất hợp pháp”“hoạt động chính trị” không được Nhà nước công nhận.

 

Công an trả tự do cho Thượng tọa Thích Như Tấn và Ḥa thượng Thích Tâm Măn sau 3 giờ làm việc căng thẳng. Lời “chia tay” của công an là một lời hăm dọa và khủng bố :

-“Cấm hai ông không được bước sang địa phận huyện Đơn Dương đến chùa Giác Hải. C̣n tới đây nữa, chúng tôi sẽ THỊT CÁC ÔNG”.

Sau đó Thượng toạ Thích Như Tấn nhận giấy mời đi làm việc liên tục của công an. Thượng toạ từ khước tŕnh diện, nhưng công an đem xe đến bắt đi làm việc suốt ngày, ngày nào cũng miệt thị GHPGVNTN, hỏi đi hỏi lại cơ cấu tổ chức của Giáo hội, cách đưa tin, chuyển tin sang Pḥng Thông tin Phật giáo Quốc tế, hay tố cáo Giáo hội “làm chính trị”, xúi giục thanh niên, sinh viên biểu t́nh chống đối Nhà nước, v.v…

 

Trường hợp 8: Cản trở Thượng tọa Thích Từ Giáo, Chùa Phước Huệ, Quảng Trị hành đạo


Ngày 28.8.2007, Thượng tọa Thích Từ Giáo, Chánh Đại diện GHPGVNTN tỉnh Quảng Trị được mời đi dự lễ Vu Lan ở Đà Nẵng, nhưng vừa đến địa phận Hải Lăng liền bị Thượng tá Công an Lê Công Dung chận bắt và áp giải về Chùa Phước Huệ rồi cấm không được ra khỏi chùa.

 

Trường hợp 9: Đấu tố Giáo Hội Phật Giáo VN Thống Nhất tỉnh Tiền Giang

 

Ngày 24.8.2007 nhà cầm quyền tỉnh Tiền Giang tổ chức ba cuộc mít ting tại ba địa điểm sát cạnh chùa Hồng Liên của Thượng tọa Thích Minh Nguyệt, chùa Bửu Khánh của Thượng tọa Thích Huệ Thông và chùa An Tân của Thượng tọa Thích Huệ Minh. Dân chúng và Phật tử được triệu tập đến ba nơi ấy nghe cán bộ nhà nước kết tội các thành viên trong Ban Đại diện đă tham gia Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) mà họ kết án "bất hợp pháp", xúc phạm danh dự cá nhân các thành viên này, và tố cáo các thành viên đă tham dự cứu trợ Dân oan khiếu kiện.

 

Thực hiện xong màn đấu tố, các cán bộ vận động quần chúng phát động việc trục xuất các vị Thượng tọa nói trên ra khỏi các ngôi chùa các ngài trụ tŕ.

 

Nhưng nhiều Phật tử liền phản ứng chống đối khi chất vấn rằng : "Tại sao tố cáo các Thầy mà lại không mời các Thầy đền dự mít ting để đối chất ?". Dân chúng nghe vậy nhiều người hưởng ứng đồng t́nh gây thành dư luận sôi nổi, khiến các cán bộ bối rối không thể thể vận động dân chúng thực hiện ư định của họ đă dự tính.

 

Trường hợp 10: Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Đà Nẵng

 

Công an Thành phố Đà Nẵng triệu tập Ông Lưu Năm (Đặc Ủy Từ Thiện Xă Hội Ban Đại diện kiêm Thường trực Văn pḥng Ban Hướng Dẫn Trung ương Gia Đ́nh Phật tử Việt Nam) và bà Nguyễn Thị Chi (Phó thư kư Ban Đại diện GHPGVNTN)  „đi làm việc“ trong hai ngày 7 và 8 tháng 10, năm 2008. Cuộc thẩm vấn do ông Lê Tấn Hùng, điều tra viên cơ quan An ninh điều tra Công an thành phố Đà nẵng thực hiện.

 

Ông Lê Tấn Hùng đă cho biết lư do cuộc thẩm vấn: “Các ông bà sinh họat với Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) là một tổ chức bất hợp pháp không được Nhà nước cho phép. Hơn nữa tổ chức này là một tổ chức chống phá nhà nước hiện nay, nếu các ông, bà vẫn c̣n sinh họat th́ coi như vi phạm pháp luật, chúng tôi sẽ có biện pháp”.      

 

5.5. Đối với Công Giáo

 

5.5.1. Khái quát về đạo Công Giáo

 

Riêng đối với Giáo hội Công giáo, là một Giáo hội có tầm vóc quốc tế trực thuộc Vatican và có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, nên đảng và chính quyền có những chính sách đàn áp tinh vi hơn.

            Về mặt nổi họ luôn tỏ ra cho thấy là Giáo hội Công giáo Việt Nam có tự do, như được xây nhà thờ, hàng giáo sĩ được ra ngoại quốc và trở về nước vv... Qua đó, một mặt họ mong tạo được cảm t́nh với Vatican và các nước phương Tây, mặt khác họ mong tạo đố kỵ nơi các Tôn Giáo khác để gây xích mích mâu thuẫn giữa các Tôn giáo với nhau.

            Trên thực tế, đảng và chính quyền CSVN mỗi ngày mỗi lũng đoạn nội bộ Giáo Hội Công Giáo sâu đậm hơn, cụ thể qua các sự việc sau:

-         „Cộng sản hoá“ Giáo hội bằng cách bắt buộc các tu sinh chủng sinh trong các tu viện, chủng viện phải học thuyết Mác-Lênin, lịch sử và luật pháp đảng CSVN.

-         nhân sự được tuyển chọn làm tu sinh chủng sinh được tấn phong Linh mục, Giám mục, Hồng Y, cũng như được bổ nhiệm và thuyên chuyển trong Giáo hội đều phải có sự chấp thuận của nhà nước. Qua đó đảng và nhà nước cộng sản VN có thể sắp đặt người của họ vào các chủng viện, tu viện để trở thành các chức sắc tôn giáo và vào bộ máy điều hành Giáo hội để trở thành cán bộ, tay sai. Những người này nằm bên trong Giáo hội nên dễ dàng theo dơi, lũng đoạn, thao túng Giáo hội.

-         „Vật chất hoá“ Giáo hội, tạo thói hưởng thụ vật chất trong giới Giáo sĩ, tu sĩ. 

-         Cho lập các khu ăn chơi gần nhà thờ, nhà ḍng, khu vực tôn giáo để gây rối loạn hay ô nhiễm bầu khí đạo đức, tâm linh.

 

5.5.2 Mười trường hợp tiêu biểu vi phạm đối với Giáo Hội Công Giáo

 

Trường hợp 1: Họ Đạo Kế Sung, Thừa Thiên- Huế

 

Ngày 01/03/2005 Các cán bộ cao cấp xă Phú Diên, Phú Vang, Thừa Thiên- Huế đă chiếm đất của họ Đạo Kế Sung và mang cả đoàn viên thanh niên, phụ nữ CSVN đến đàn áp, khủng bố và đánh đập rất dă man, đánh đập 11 bà mẹ giáo dân, đám phụ nữ CSVN c̣n xông vào lột áo chị Thu Hà để làm nhục chị.

 

Trường hợp 2: Tượng Đức Mẹ Sầu Bi tại giáo xứ Đồng Đinh

Ngày 27/01/2007 Tượng Đức Mẹ Sầu Bi tại giáo xứ Đồng Đinh, Tổng giáo phận Hà Nội, bị ông Đinh Minh Uy, chủ tịch xă Thượng Ḥa dùng búa và xà beng đập vỡ mặt, đầu gần đứt hết, chỉ c̣n ít bê-tông dính cốt thép nơi phần cổ, tay phải đức Mẹ bị chặt vứt đâu mất, chỉ c̣n 2 ngón tay, dính vào vai Đức Chúa Giêsu. Tay trái Đức Mẹ đỡ chân Chúa cũng bị chặt từ phần bên dưới vai. Đầu Chúa cũng bị đập vỡ nát và vứt đâu mất chỉ c̣n vài thanh sắt, 2 chân Chúa bị đập vỡ nát, ḷi ra các xương ống bằng thép, thân ḿnh Chúa và Đức Mẹ bị sứt mẻ lung tung v́ bị búa đập và xà beng chọc. Ông Đinh Minh Uy đă tuyên bố «Nếu không hạ tượng th́ kể cả cụt tay, tôi cũng lấy xà beng chọc nát tượng”.

 

Tượng Đức Mẹ Sầu Bi tại giáo xứ Đồng Đinh bị đập (H́nh: chuacuuthe.com)

 

Trường hợp 3: Giáo xứ Thái Hà, Hà Nội

 

Từ năm 1996 Linh mục và giáo dân giáo xứ Thái Hà (thuộc Ḍng Chúa Cứu Thế) thưa kiện đ̣i lại khu đất mà nhà cầm quyền CSVN đă lấy của giáo xứ cho một số xí nghiệp sử dụng, nhưng không có kết qủa. Cuối năm 2006, được tin nhà cầm quyền CSVN sẽ cho phép xí nghiệp may mặc Chiến Thắng (xây dựng trên phần đất của Giáo xứ Thái Hà) bán phần đất của Giáo xứ mà họ được nhà nước giao xử dụng cho công ty địa ốc Phước Điền, các Linh mục và Giáo dân lại viết đơn khiếu kiện, nhưng vẫn không được giải quyết thoả đáng. Niềm hy vọng cuối cùng là dùng Đức Tin để lay chuyển nhà nước thay đổi quyết định. Giáo dân đă tập trung cầu nguyện ngày đêm trên mảnh đất của giáo xứ bị lấy mất đi. Nhà nước đă dùng công an mật vụ đe dọa, mắng chửi, hành hung, bắt bớ những ai tham gia cầu nguyện. Công an c̣n dùng lựu đạn cay để cản trở những cuộc cầu nguyện, dùng roi điện đánh đập giáo dân đến hỗ trợ tinh thần những đồng đạo bị bắt giam tại đồn. Sở Giáo dục th́ gửi văn thơ cho các trường đ̣i hỏi hiệu trưởng phải cho người tới Thái Hà bắt học sinh của ḿnh về không cho cầu nguyện. Các học sinh tham gia cầu nguyện bị kiểm điểm trước lớp và bị bắt buộc phải hứa là không được tới nhà thờ Thái Hà cầu nguyện nữa.

 

 

 

 

Trường hợp 4: Ṭa Khâm sứ Hà Nội

 

Từ ngày 18-12-2007 giáo dân Hà Nội đă bắt đầu các buổi thắp nến cầu nguyện cho công lư ḥa b́nh, với mục tiêu cụ thể là yêu cầu nhà nước CSVN trả lại ṭa Khâm sứ. Cơ sở này thuộc tài sản của Tổng Giáo Phận Hà Nội, nhưng đă bị nhà nước cộng sản Việt Nam cưỡng chiếm từ năm 1959 và xử dụng cho những mục tiêu kinh doanh kiếm lời (như làm pḥng trà, vũ trường, quán ăn, câu lạc bộ, chỗ giữ xe) đồng thời khuấy động bầu khí nghiêm trang tĩnh mịch của ṭa Tổng Giám Mục, đại chủng viện và ḍng Mến Thánh giá vốn nằm chung quanh. Mặc dù từ hàng chục năm nay Tổng Giáo Phận đă viết đơn yêu cầu nhà nước trả lại, nhưng vẫn không có thư trả lời.

           

            Ngày 01/02/2008 nhà nước CSVN đă tuyên bố sẽ hoàn trả lại quyền xử dụng ṭa nhà cho Tổng giáo phận Hà Nội để bày tỏ “tinh thần cởi mở và sự tôn trọng Đức Thánh Cha”. Nhưng sáng sớm ngày 19/09/2008 họ đă huy động hàng trăm công an trang bị chó chuyên nghiệp bao vây toà Tổng Giám Mục, ḍng Mến Thánh Giá không cho người ra vào. Hàng trăm công an khác cũng với chó nghiệp vụ và xe cơ giới phá sập hàng rào cùng nhiều công tŕnh phụ nhà nước đă xây bao lâu nay (chỉ để lại ṭa nhà chính) và xây dựng cấp tốc một công viên.

 

Trường hợp 5: Bao vây, đe dọa Ṭa Tổng Giám mục Hà Nội

 

Sau ngày 19/09/2008 công an trang bị một mạng lưới những máy nghe trộm, máy ghi âm, máy quay (camera) để kiểm soát những hoạt động trong Ṭa Tổng Giám mục Hà Nội.

 

Từ mái nhà của trường Hoàn Kiếm, nằm sát ngay phía sau của Ṭa Tổng Giám mục, chính quyền đă cho đặt 2 thiết bị theo dơi và ghi lại mọi động tĩnh từ Ṭa Tổng Giám mục, nhất là các cuộc họp bàn và điện thoại. Được biết, mỗi máy này được 5 công an ngày đêm túc trực 24/24 để điều khiển và theo dơi.

 

Từ mọi phía của Ṭa Tổng Giám mục đều bị chĩa camera quan sát của chính quyền. Phía cổng chính Ṭa TGM và các lối đi đều bị theo dơi nghiêm ngặt bằng những chiếc camera kỹ thuật số chuyên nghiệp.

 

Theo quan sát của một số nhân chứng, các camera này đều nối kết với máy trung tâm được đặt ở ṭa nhà số 33 phố Nhà Chung – trung tâm bồi dưỡng chính trị của đảng tại quận Hoàn Kiếm. Do đó, có thể khẳng định rằng mọi hoạt động, lời nói từ Ṭa Tổng Giám mục đều bị theo dơi và giám sát chặt chẽ.

 

Từ ngày 19/9 đến nay, các máy điện thoại di động trong khu vực Ṭa Tổng Giám mục đều không hoạt động được do bị phá sóng.

 

 

 

 

Những Cameras để kiểm soát Toà Tổng Giám Mục Hà Nội

 

Trường hợp 6:  nhà thờ ḍng Chúa Cứu Thế tại Sàig̣n

 

Buổi tối ngày 24/09/2008 nhà thờ ḍng Chúa Cứu Thế tại Sàig̣n có tổ chức một buổi cầu nguyện hiệp thông với Tổng Giáo Phận Hà Nội và Giáo Xứ Thái Hà. Trước đó Sở Giáo dục đă gửi văn thư đến các trường trung học, cao đẳng và các trường chuyên nghiệp tại Sàig̣n yêu cầu Hiệu Trưởng các trường phải quản lư chắc học sinh, sinh viên của ḿnh, phải cử nhân viên tới tận hiện trường để „giải quyết tại chỗ những vấn đề liên quan“:

 

ỦY BAN NHÂN DÂN                                               CỘNG H̉A XĂ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH                                                Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO                                             
Số : 2069 / GDĐT – VP                                                           TP. Hồ Chí Minh, ngày 24 tháng 9 năm 2008

Về tăng cường công tác bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xă hội.

KHẨN

Kính gởi :
- Trưởng pḥng Giáo dục & Đào tạo các quận (huyện);
- Hiệu trưởng các trường THPT, CĐ, TCCN và trực thuộc.

Lợi dụng việc gây rối trật tự của một số giáo dân tại số 178 Nguyễn Lương Bằng ( Hà Nội), một số phần tử xấu dự định kích động, lôi kéo thanh niên, học sinh, sinh viên tụ tập trái pháp luật. Nhằm đảm bảo tốt t́nh h́nh an ninh, trật tự xă hội, Sở Giáo dục và Đào tạo đề nghị thủ trưởng các đơn vị tiếp tục thực hiện tốt thực hiện tốt các nội dung sau :

 

1/ Tiếp tục thực hiện tốt các nội dung đă yêu cầu trong các văn bản số 1902/GDĐT – VP ngày 08/9/2008 và số 1945/GDĐT – VP ngày 11/9/2008 của Sở Giáo dục và Đào tạo.

2/ Nghiêm cấm học sinh, sinh viên tụ tập biểu t́nh hoặc thực hiện các hành vi trái pháp luật. Khi có vụ việc xảy ra, yêu cầu Hiệu trưởng các đơn vị trực tiếp giải quyết và cử cán bộ các bộ phận chức năng có mặt tại hiện trường để phối hợp giải quyết tại chỗ những vấn đề liên quan và báo cáo ngay về cho lănh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo.

3/ Tổ chức trực ban để sẵn sàng phối hợp khi có vụ việc xảy ra ( lưu ư các buổi tối từ ngày 24/9 đến hết ngày 28/9/2008)

Sở Giáo dục và Đào tạo đề nghị thủ trưởng các đơn vị nghiêm túc chỉ đạo thực hiện./.

Nơi nhận : KT.GIÁM ĐỐC
-Như trên; PHÓ GIÁM ĐỐC
-Đ/Ủy, BGĐ; Nguyễn Văn Ngai
-Trưởng pḥng, ban Sở;
-Lưu.VP.

 

Trường hợp 7: Nhà nước là khủng bố

 

Vào lúc 23h30 tối 21.9.2008: các nhân viên cảnh sát cơ động, trật tự, dân pḥng, nhân viên an ninh, những người quấy phá đến Ḍng Chúa Cứu Thế và nhà thờ Thái Hà, Hà Nội. Tổng cộng khoảng 500 người. Họ cô lập để phá hoại Nhà Ḍng. Nhiều giáo dân bị đánh. Các linh mục phải giải tán giáo dân. Lực lượng quân lực đàn áp dă man Ḍng Chúa Cứu Thế Thái Hà. Hệ thống điện thoại trong khu vực bị tê liệt hoàn toàn v́ chính quyền đưa thêm xe phá sóng đến.

            Đám người này đă vào linh địa phá hết các lều bạt, đánh các cụ canh lều. Một bà cụ bị thương nặng. Họ cũng đập phá đền Giêrađô mặc dù có rất đông lực lượng cảnh sát cơ động, công an. Mọi người ở khu Giêrađô đă được giải tán kịp thời. Cả khu phố náo loạn…

            Sau đó họ tụ tập trước nhà thờ Thái Hà, chửi bới, ḥ hét: "Giết! Giết! Giết Kiệt! Giết Phụng!" và xô cổng xông vào nhà thờ, ném đá vào những người bên trong nhà thờ. Tất cả các tu sĩ đă đóng chặt cửa Tu viện không cho đám người này đột nhập. Cảnh sát cơ động và công an quận Đống Đa (Hà Nội) có mặt tại hiện trường, nhưng chỉ thụ động đứng nh́n những kẻ quấy rối mà không can thiệp.

 

Đám người được nhà nước huy động đến để khủng bố linh mục và giáo dân Thái Hà.

 

 

Trường hợp 8: Gây hấn và toan tiếm đoạt quyền lănh đạo tôn giáo

 

Ngày 15/10/2008, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội mời họp và thông báo với đại diện ngoại giao các quốc gia tại Việt Nam rằng sẽ đề nghị thuyên chuyển Đức Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt ra khỏi Giáo phận Hà Nội.

 

Báo Hà Nội Mới và Sàig̣n Giải Phóng trích lời ông Nguyễn Thế Thảo, Chủ tịch Ủy ban, phát biểu tại cuộc họp này khẳng định “nguyên nhân của các vụ việc là do một số giáo sỹ đứng đầu là Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt đă lợi dụng hoạt động tôn giáo”,  “cố t́nh vi phạm pháp luật” và ông Thảo đă tuyên bố: „Thành phố kiến nghị không để ông Ngô Quang Kiệt giữ chức vụ Tổng giám mục địa phận Hà Nội“.

 

Trường hợp 9: Cuộc phỏng vấn của đài truyền h́nh CNN với Nguyễn Minh Triết

 

Cuộc phỏng vấn của phóng viên Wolf Blitzer của đài truyền h́nh CNN với chủ tịch CSVN Nguyễn Minh Triết nhân chuyến viếng thăm Hoa Kỳ hôm 22.6.2007 được báo Nhân Dân thay đổi một số câu hỏi cũng như câu trả lời rồi phổ biến. Bài này sau đó được các báo mạng Tuổi Trẻ, VNN đăng lại. Sau đây là những thí dụ:

 

Kư giả Wolf Blitzer: Because I ask that specific question, because the president at June 5th conference on democracy and security, a conference that he had in Prague, he did mention one specific name, Father Nguyen Van Ly of Vietnam, someone that he said -- he included within a group of others around the world whose human rights were being violated. (Tôi muốn đặt ra câu hỏi cụ thể này, bởi v́ ông Tổng thống trong Hôị nghị về dân chủ và an ninh vào ngày 5 tháng 6 được tổ chức tại Prague, đă có nhắc đến một người cụ thể là LM Nguyễn Văn Lư của Việt Nam, người mà tổng thống nói – tổng thống cho vào số nhóm những người trên thế giới bị vi phạm nhân quyền)

 

Báo Nhân Dân đăng lại như sau: Tôi đưa vấn đề này ra v́ trong hội nghị tháng năm, tháng sáu ở Pháp, Tổng thống Bush có đưa ra việc Nguyễn Văn Lư bị vi phạm nhân quyền?

 

Nguyễn Minh Triết (though translator):  Reverend Nguyen Van Ly was brought to court because of these violations of the law. It absolutely is not a matter of religion.  (Linh mục Nguyễn văn Lư bị đưa ra ṭa v́ các vi phạm luật pháp. Nhất định là không phải v́ vấn đề tôn giáo).

 

Báo Nhân Dân đăng lại: Ông ta vi phạm pháp luật VN. Đây hoàn toàn là vấn đề pháp luật, không phải là vấn đề tôn giáo. Việc xét xử ông ta được Hội đồng giám mục VN và Ṭa thánh Vatican cũng đồng t́nh với chúng tôi.

 

http://www.nhandan.com.vn/tinbaidadang/noidung/?top=37&sub=50&article=98847

Sau khi các báo chí Việt Nam đăng tải bài phỏng vấn nêu trên. Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đă đưa ra một thông báo nguyên văn như sau:

 

Kính thưa Cụ Chủ Tịch Nước, Thay mặt Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, tôi kính gửi lời thăm Cụ và thưa Cụ việc sau đây :
Nhân đọc trong báo “Tuổi Trẻ“, số ra ngày 6 tháng 7 năm 2007, tại trang 3, liên quan đến vụ xét xử Linh mục Nguyễn Văn Lư,
Hội Đồng Giám Mục Việt Nam nhận định như sau :
Câu trả lời của Cụ Chủ tịch Nước Nguyễn Minh Triết “Hội Đồng Giám Mục Việt Nam và Ṭa Thánh Vatican cũng đồng t́nh với chúng tôi” là không đúng sự thật
Kính chúc Cụ sức khỏe.
TM. Hội Đồng Giám Mục Việt
+ Phaolô Nguyễn Văn Ḥa
Chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam

 

Trường hợp 10: Giáo xứ An Bằng, Huế

 

Từ nhiều chục năm qua (trước năm 1975), giáo dân giáp An Bắc thuộc làng An Bằng, xă Vinh An, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên-Huế  thường sum họp nơi mảnh đất thuộc khu vườn do ông Lê Khinh cúng cho giáp từ năm 1961 để đọc kinh chung thờ phượng Chúa. Sau này có dịp thuận lợi tổ chức hành lễ cầu an, mừng bổn mạng, mừng Chúa Giáng sinh, Phục sinh. Ông Lê Tuân (cháu nội của ông Lê Khinh) thừa tự không tranh chấp. Gia tộc ông không có một văn bản nào của chính quyền ra lệnh thu hồi, tịch thu đất và rừng dương.

 

Giữa năm 2007, giáo dân làm đơn xin chính quyền xă và các cấp cho phép làm một đài lễ vững bền gồm một cây Thánh Giá, một bàn thờ, một tượng Thánh Tâm Chúa Giêsu, bổn mạng của giáp, trên mảnh đất truyền thống (khoảng 600 m2) dùng làm nơi thờ tự. Sau 30 ngày, xă trả đơn và không phê duyệt ǵ. Tháng 12, để mừng lễ Chúa Giáng sinh, giáp dựng một cây Thánh giá gỗ, một bàn thờ xi-măng, làm một máng cỏ lớn hơn các năm trước.

 

Ngày 16-09-2008, Ủy ban Nhân dân (UBND) huyện Phú Vang gửi văn thư số 530/UBND-NV cho Linh mục Phêrô Nguyễn Hữu Giải, quản xứ giáo xứ An Bằng, yêu cầu chỉ đạo Hội đồng Giáo xứ (HĐGX) và Ban Điều hành (BĐH) giáp An Bắc tháo dỡ “các công tŕnh xây dựng trái phép” trên thửa đất thuộc rừng pḥng hộ ven biển do UBND xă Vinh An quản lư. Được biết Đức Tổng Giám mục Huế Têphanô Nguyễn Như Thể cũng nhận được văn thư với đề nghị chỉ đạo cho LM Giải, cho Hội Đồng Giáo Xứ và Ban Điều Hành giáp. C̣n HĐGX An Bằng th́ nhận được văn thư với yêu cầu chỉ đạo BĐH giáp.

 

Ngày 26-09-2008, lúc 13g, lực lượng cán bộ xă, huyện và bộ đội biên pḥng bao vây đài lễ trong lúc một số giáo dân đọc kinh trước Thánh giá. Kể từ hôm đó đến nay, cán bộ và bộ đội đóng hai trại canh gác đài lễ, dù mưa to gió lớn của mùa lụt băo Huế.

 

Ngày 27-09-2008, cảnh sát giao thông kéo tới chốt đường về nhà thờ từ 18g. Một hiện tượng chưa bao giờ có ở vùng quê xa đường lộ và vào đêm tối.

 

Ngày 10-10: LM Nguyễn Hữu Giải bị mời  “làm việc” tại UBND huyện từ 8g30 đến 10g30. Ông Phan Văn Quang, chủ tịch UBND, ông Dương Văn Ngọc, phó chủ tịch và khoảng 9 vị thuộc đủ ban ngành. Ông Quang buộc tội: chưa được phép xây dựng mà đă làm đài Thánh giá, nơi làm đài là đất rừng pḥng hộ, buộc tháo dỡ.

 

Ngày 15-10: Loa bắt đầu phát thanh những lời buộc tội giáo dân An Bằng, giáp An Bắc và LM Nguyễn Hữu Giải về tội chiếm đất rừng pḥng hộ. Anh Phan Công và anh Lê Văn Tuấn làm việc với công an tại huyện.

 

Ngày 17-10: ông Văn Đ́nh Trung, ông Đào Tấn Kỷ, ông Nguyễn Thanh thuộc HĐGX bị làm việc tại UBND huyện. Huyện cho rằng, theo luật phải giao đất cho nhà nước rồi nhà nước cấp lại cho tôn giáo sử dụng, không được trực tiếp. Các ông quả quyết đất làm đài Thánh giá là của ông Lê Khinh cúng cho giáp từ 1961, nay mới có dịp dựng Thánh giá bằng bê-tông. Ông Lê Dị và con là Lê Tuân chỉ làm chứng không tranh chấp chứ không phải làm giấy cúng đất cho giáp. Từ trước 1975, giáo dân họp mặt tại đó để cầu nguyện. Đất đó thuộc giáp thờ tự.

 

Tối ngày 17-10-2008, đài truyền h́nh Huế chiếu cảnh rừng dương do nhà nước quản lư để bảo vệ dân và chiếu đài lễ của giáp An Bắc gồm Thánh giá, bàn thờ, mấy cọc mốc rồi lên án ông Nguyễn Đức Mân và linh mục Nguyễn Hữu Giải  “trắng trợn” vi phạm đất rừng pḥng hộ. Quay đi quay lại một gốc dương vừa bị gió đánh găy ở khu vườn cạnh đó rồi ghép lại với đài lễ!

 

5.6. Những Vi phạm đối với các Hội Thánh Tin Lành

5.6.1 Các Hội thánh Tin lành Mennonite

Các Hội thánh Tin lành Mennonite vùng cao nguyên Trung phần liên kết lại thành Hiệp Hội Thông Công Tin Lành bao gồm 54 Dân Tộc Việt Nam do Mục sư Nguyễn Công Chính làm chủ tịch. Nhiều Hội thánh Mennonite tuy đă nộp đơn xin công nhận với chính quyền địa phương nhưng có nơi không nhận đơn, có nơi họ nhận đơn nhưng họ không trả lời. Công an địa phương cưỡng ép các Hội thánh viết đơn rút lui khỏi Hiệp Hội Thông Công Tin Lành, nhưng không đạt được kết qủa

Mục sư Nguyễn Công Chính

Mục sư Nguyễn Công Chính đă bị Chính quyền tịch thu Sổ Hộ khẩu và các giấy tờ tuỳ thân từ năm 1999 cho đến nay v́ Mục sư truyền đạo Tin lành tại Tây Nguyên. Từ ngày Nhà cầm quyền CSVN tỉnh Kon-Tum ủi sập Nhà nguyện Hội thánh Tin lành Mennonite Kon-Tum lần thứ 2 ngày 16-01-2004 (cùng lúc cũng ủi sập đến 400 (bốn trăm) Nhà nguyện khác) cho đến nay, gia đ́nh Mục sư Chính đă phải t́m chổ tạm trú 23 lần. Đi đến đâu, chỉ không đầy 02  tháng là Công an CSVN lại cưỡng ép, hù dọa chủ nhà đuổi gia đ́nh Mục sư đi. Đă hơn 300 lần Chính bị thẩm vấn, 20 lần bị đánh, bị tịch thu hết tài sản, 56 lần bị trục xuất. 

 

Ngày 24/9/2004. Chính quyền Kon tum huy động lực lượng công an, bộ đội ủi sập nhà nguyện Hội thánh tin lành Mennonite Kon tum và tịch thu toàn bộ tài sản.

Ngày 24/9/2004. Chính quyền Kon tum huy động lực lượng công an, bộ đội ủi sập nhà nguyện Hội thánh tin lành Mennonite Kon tum và tịch thu toàn bộ tài sản.

Chỉ trong ṿng hơn 2 tháng, từ đầu tháng 5 đến  đầu tháng 7 năm 2008 Mục sư Nguyễn Công Chính đă bị triệu đi làm việc với công an Gia Lai đúng 60 ngày và mỗi ngày đi như vậy có 2 công an đến gơ cửa rồi áp tải mục sư đi. Trưa th́ có 2 công an giữ ông tại chỗ. Chiều có 2 công an đưa về. Tối có 4 đến 6 công an đóng chốt canh gác. Về nội dung “làm việc”, họ thẩm vấn mục sư Chính về nhiều vấn đề khác nhau liên quan đến:

–          Các thông cáo báo chí của Hiệp Hội Tin lành các Dân tộc Việt Nam (VPEF) phản đối nhà cầm quyền CSVN vi phạm nhân quyền và đàn áp tôn giáo đối với những người theo đạo Tin lành, 

–          Việc thông tin về các dân tộc tại Tây Nguyên biểu t́nh bị lọt ra ngoài,

–          350 tù nhân lương tâm tôn giáo người Thượng,

–          6 Mục sư sắc tộc bị bắt ngày 5-11-2007,

–          Khối 8406 và một số thành viên tích cực của Khối như: Ls Nguyễn Văn Đài, Ls Lê Thị Công Nhân, Lm Phan Văn Lợi, Gs Nguyễn Chính Kết, Ms Nguyễn Hồng Quang, v.v…

–          Việc liên lạc với người Việt hải ngoại và các phóng viên đài nước ngoài như Pv Bảo Khánh (Vietnam Sydney Radio), Pv Đỗ Hiếu (RFA), và nhiều người khác,

–          Việc nhận sự giúp đỡ của người Việt hải ngoại, đặc biệt Khối 1906, Khối 1706 … và c̣n nhiều vấn đề khác nữa…

Khi “làm việc”, có khoảng 10 công an thẩm vấn mục sư cùng một lúc. Họ là công an ở các cấp Tỉnh, Thành phố, Bộ. Dù cao cấp như thế, nhưng họ vẫn thường “làm việc” theo kiểu hù dọa và ăn nói hỗn xược, xúc phạm mục sư nhiều lần. Trước cảnh bất b́nh ấy, mục sư chỉ biết đối lại bằng im lặng và cầu nguyện.

Mục sư Nguyễn Công Chính bị CA đánh ngày 12/07/2008

Những công an thường “làm việc” với mục sư là:

1. Trung tá Đỗ Văn Tiên, phó trưởng pḥng PA38 tỉnh Gia Lai, người đă từng kư nhiều quyết định bắt giam, bỏ tù nhiều mục sư, truyền đạo và tín đồ Tin lành tại Gia Lai (Điện thoại di động: 0938-264-079, điện thoại bàn nơi làm việc: 059-869-139).

2. Trung tá Nguyễn Trường Chinh, phó pḥng cảnh sát điều tra tỉnh Gia Lai.

3. Trung tá Trần Sáu, đội trưởng an ninh thành phố Pleiku.

4. Thiếu tá Trần Sơn Đại Huynh, Đội trưởng PA38, đồng bọn với Ralanlâm.

5. Đại úy Lê Công Thành, đội phó PA38, đồng bọn với Thượng tá Ralanlâm (Hiện nay Ralanlâm là phó giám đốc công an tỉnh Gia Lai, đặc trách ngành an ninh. Ngày 5-9-2006, Ralanlâm đă hành hung, đánh đập Ms Chính, với rất nhiều ác cảm. Nay, tên này lại sai đám an ninh tay sai tiếp tục hành hạ ông bằng đủ mọi h́nh thức: sách nhiễu, cô lập, ngăm đe và nhiều thủ đoạn khác...

6. Đại úy Nguyễn Thị Liên, an ninh PA38, đồng bọn với Ralanlâm.

7. Thượng úy Phan Thanh Sơn, công an điều tra Gia Lai, đồng bọn với Ralanlâm.

8. Trung úy Quí (tự Quí đen), an ninh thành phố Pleiku, đồng bọn với Ralanlâm.

9. Trung úy Thành (tự Thành mập), an ninh PA38, đồng bọn với Ralanlâm.

10. Trung úy Nguyễn Trọng Hóa, công an phường Hoa Lư).

11. Thiếu úy Cường (tự Cường mập), an ninh PA38, đồng bọn với Ralanlâm.

12. Thiếu úy A-Mơn, an ninh PA38, đồng bọn với Ralanlâm.

Ngoài ra c̣n có 3 an ninh thuộc Bộ công an giám sát mỗi ngày.

 

Thu âm một cuộc thẩm vấn, chửi rủa và tra tấn Mục sư Nguyễn Công Chính

 

Cuộc thẩm vấn, chửi rủa và tra tấn Mục sư Nguyễn Công Chính của 2 Trung tá CA RahlanLam và Thu tại Cơ quan CA Hoa Lư, Pleiku, Gia Lai từ 14 giờ đến 17 giờ chiều ngày 05-9-2006 được trực tiếp ghi âm của Radio RFA tại http://vn1info.com/mylinhng.htm phổ biến ngày 06-9-2006. Trong cuộc thẩm vấn và tra tấn này 2 trung tá công an nêu trên muốn gây áp lực buộc Mục sư Chính không được tiếp tục truyền giáo tại vùng Tây Nguyên nữa và trục xuất Mục sư ra khỏi nhà cha mẹ ruột, tịch thu không có lư do chính đáng xe gắn máy của Mục sư và 5 xe gắn máy khác của 5 Tín hữu Tin Lành đến thăm viếng Mục sư. Trong lần đánh đập rất dă man này, 2 CA đe dọa là “Tụi tao đánh, cho bọn mày giỏi th́ kiện đi. Tụi tao c̣n đánh nữa cho đến khi mày không c̣n dám ở đây truyền đạo bậy bạ nữa”.

 

Tội giữ Kinh Thánh

 

Ngày 9-1-2007, Công an Phường Hoa Lư, thị xă Pleiku, tỉnh Gia Lai triệu tập Mục sư Chính đến bắt nộp phạt 7.500.000đ v́ “tội” đă tàng trữ 259 cuốn Kinh Thánh mà họ đă tịch thu ngày 16-8-2006 của Giáo hội Tin Lành Mennonite Pleiku do Mục sư Nguyễn Công Chính chăm sóc. Chiều 9-1-2007, Công an CS Phường Hoa Lư đánh đập Mục sư Chính cách dă man đến trọng thương tới nỗi Mục sư Chính phải về Sài G̣n điều trị, họ c̣n lột trần truồng Mục sư Chính ra để khám xét cách rất ô nhục lần thứ 3.

 

Công an Gia lai đến khám xét nhà Ms. Nguyễn Công Chính vào lúc 19h ngày 16/08/2006, tịch thu 259 cuốn kinh thánh.

Chấp sự Đạo Tin Lành Ralan Punh

 

Từ năm 2001 đến nay, rất nhiều Mục sư, Truyền đạo, Chấp sự, Tín hữu Tin Lành đă bị Công an - Bộ đội CSVN vu khống ghép tội theo Tin lành Đê-Ga và bắt bỏ tù hàng ngàn Giáo sĩ và Tín hữu. Rất nhiều Hội thánh Tin lành Dân tộc ít người Tây Nguyên đă bị đàn áp, đánh đập, bỏ tù và buộc phải giải tán không cho sinh hoạt bày tỏ niềm tin của ḿnh. Nhiều gia đ́nh gặp khó khăn trong khi thân nhân ở tù oan, cha xa con, vợ xa chồng, có quá nhiều trường hợp rất thương tâm. Những cảnh Công an - Bộ đội CSVN bố ráp nửa đêm, vào nhà bịt mắt bắt Dân dẫn đi, trở thành nỗi kinh hoàng thường xuyên của các cộng đồng Tín hữu Tin Lành các Dân tộc Tây Nguyên, một loại bạo quyền bất chấp đạo lư, lạnh lùng vô cảm khống chế đàn áp họ suốt 31 năm qua.

 

Một bằng chứng điển h́nh là trường hợp Chấp sự Đạo Tin Lành Ralan Punh tại Plei-Blo, xă A-Đơk, Huyện Đak-Đoa, tỉnh Gia Lai : Ngày 01-04-2004 Anh đă chạy trốn vào rừng v́ Công an truy đuổi vu khống tội theo Tin Lành Đê-Ga. Ngày 04-01-2005 bị bắt và giam tù tại T20, tỉnh Gia Lai. Ngày 05-05-2005 được trả tự do về đoàn tụ với gia đ́nh. Ngày 13-05-2006 Anh tổ chức Hội thánh cầu nguyện tại nhà. Công an Huyện Đak-Đoa cho việc theo Tin Lành Mennonite là “trái phép” (¡?). Ngày 18-05-2006 và ngày 08-6-2006, Công an huyện Đak-Đoa kết hợp cùng Nhà cầm quyền xă A-Đơk làm việc tại UBND xă A-Đơk với Chấp sự Ralan Punh, lần trước buộc Chấp sự Ralan Punh kư giấy cam kết bỏ Đạo, lần sau buộc kư giấy cam kết giải tán Hội Thánh tại Plei-Blo. 6 h sáng ngày 11-06-2006, khoảng 20 Công an Bộ đội kết hợp với Nhà cầm quyền CSVN xă A-Đơk xông vào giải tán Hội Thánh khi Hội Thánh đang cầu nguyện sáng Chúa nhật (11-06-2006), rồi c̣ng tay Chấp sự Ralan Punh bỏ lên xe Jeep đem về đồn công an Huyện Đak-Đoa và cho đến ngày 11-6-2006 Mục sư Chính viết Thông báo khẩn cấp, Hội thánh và Gia đ́nh đều chưa biết tin tức, mặc dù Chấp sự Ralan Punh không vi phạm bất cứ điều luật nào, ngoài việc theo và truyền Đạo Tin Lành mà thôi.

 

Mục sư Nguyễn Hồng Quang

 

A/ Ngày 9-1-2007 Công an CS đă đưa một lực lượng đông đảo công an, quân đội, dân pḥng, xă hội đen… đến đập phá trụ sở của Giáo hội Tin lành Mennonite và tư thất của Mục sư Nguyễn Hồng Quang tại số 5/1H đường Trần Năo, phường B́nh Khánh, quận 2, Sài G̣n.

 

B/ Ngày 26/04/2008, mục sư Nguyễn Hồng Quang yêu cầu mục sư Y Yan và mục sư Y Kor tại Pleku báo cho chính quyền địa phương nơi đó biết về việc Ms Quang sẽ đến Pleku tham dự lễ tạ ơn của Hội Thánh Mennonite sắc tộc Jarai, và dự đám cưới của con Mục sư Y Hoan. Sau đó, có 8 công an đến nhà Ms Y Yan làm áp lực và triệu tập Ms Y Kor đến trụ sở công an thẩm vấn, khủng bố tinh thần. Kể từ đó, Ms Quang liên tục bị một người gọi điện thoại từ số máy 098-311-6127 chửi thề, hăm dọa sẽ giết chết ông nếu ông lên Tây Nguyên thăm viếng mục vụ các sắc tộc tại đó.

 

C/ Ngày 21/04/2008, một người có địa chỉ email Janapur-vietnam gửi email đến Ms Quang đ̣i giết ông. Trước đó, người này cũng đă từng hăm dọa, khủng bố tinh thần gia đ́nh ông qua email.

 

D/ Ngày 23/04/2005, công an và chính quyền Phan Rang họp dân để đấu tố:

– Ms Nguyễn Hồng Quang (ở Sàig̣n)

– Ms Nguyễn Công Chính (ở Pleku)

– Ms Đàn Năng Quyền (thuộc sắc tộc Chăm là đại diên Mennonite Phan Rang và là thành viên ban điều hành các sắc tộc)

– Ms Truyền đạo Lưu Huy (sắc tộc Chăm, tất cả bị công an thẩm vấn và chuẩn bị đấu tố, nhưng v́ Ms truyền đạo Lưu Huy rất hiền từ chân thật nên được nhân dân binh vực.

 

E/ Ngày 29/04/2008, công an đă bắt ba sinh viên thần học Mennonite đang trọ học tại nhà Ms Quang về phường An Khánh quận 2 thẩm vấn. Giữa đêm khuya, công an đập cửa đ̣i khám xét nhà, đ̣i trục xuất gây hoảng loạn cho 33 sinh viên Tin Lành đang theo học thần học tại đây, cho dẫu họ đều đă đăng kư tạm trú với chính quyền vào tháng 01/2008.

 

F/ Ngày 29/04/2008 công an sở, quận và phường tập trung đóng chốt trước ngơ dẫn vào văn pḥng giáo hội Mennonite. Mọi việc đi lại của Ms Quang đều bị lực lượng nầy theo dơi sát gót. Viên trung tá khối trưởng công an phường B́nh An cho họp dân để vu khống, bôi nhọ người Tin lành. Khi bị dân chúng phản ứng th́ họ nói rằng Ms Quang là Tin Lành Degar là kẻ phản động.

 

G/ Hiện nay một chiến dịch bôi nhọ các mục sư Mennonite đang được thực hiện cùng với hàng ngàn truyền đơn gửi đến từng nhà dân ở nhiều tỉnh thành đất nước, nhất là những vùng có người Tin lành. Truyền đơn ngụy tạo nội dung nhân danh lănh sự Mỹ, nhân danh giáo hội Tin Lành VEF tố cáo Ms Quang nhiều chuyện nhằm gây hiểu lầm và phá hoại uy tín lănh đạo giáo hội của ông. Các mục sư Mennonite tại các tỉnh Tây Nguyên, miền Trung bị thẩm vấn, bị thúc ép bỏ đạo hoặc buộc phải chuyển qua nhóm Mennonite được chính quyền hậu thuẫn.

 

H/ Nhiều mục sư Mennonite hiện đang bị giam cầm trong tù chưa được tha. Các thủ tục hành chánh th́ có sự phân biệt đối xử với tín hữu Mennonite. Công an đang giữ giấy tờ tùy thân của một số tín hữu Mennonite từ nhiều năm nay và không chịu trả để họ không thể đi đâu dù là thăm bà con họ hàng. Nhiều nhu cầu cần thiết của cuộc sống cần được thỏa măn theo tính nhân đạo đă không được giải quyết. Các khiếu nại về những thiệt hại của giáo hội do nhà cầm quyền gây ra không được cứu xét. Những quyết định hành chánh sai trật của nhà cầm quyền đối với hội thánh Mennonite không được thu hồi…

 

H/ Nhiều mục sư Mennonite đang bị cầm tù. Các thủ tục hành chánh có sự phân biệt đối xử với tín hữu Mennonite. Công an đang giữ giấy tờ tùy thân của một số tín hữu Mennonite từ nhiều năm nay và không chịu trả. Các khiếu nại về những thiệt hại của giáo hội do nhà cầm quyền gây ra không được cứu xét. Những quyết định hành chánh sai trật của nhà cầm quyền đối với hội thánh Mennonite không được thu hồi…

 

Mục sư Cao xuân Tạo

Tại Quảng B́nh, Mục sư Cao xuân Tạo bị bắt giam từ tháng 11/ 2000 đến nay .

 

Mục sư Ngô Đắc Lủy phải trốn tránh v́ đang bị  truy lùng gắt gao

 

Mục sư A Đung, người H’lang sinh quán tại xă Sa B́nh, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum, tổng quản nhiệm giáo hạt Sa thầy bị công an bắt đi, không được xét xử.

 

5.6.2 Hội Thánh Tin Lành Toàn Vẹn Việt Nam

Ngày Chúa Nhật 06-07-2008 các tín đồ thuộc Hội Thánh Tin Lành Toàn Vẹn Việt Nam tại xă Quảng Yên, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá gồm chị Trương thị Oanh, chị Nguyễn thị Hoa, anh Nguyễn văn Thịnh, đến nhà mục sư Nguyễn Trung Tôn để cầu nguyện. Vào lúc đó có 2 viên công an tên là Lê văn Hoa và Lê văn Bảo đến kiểm tra giấy tờ. Sau khi kiểm tra giấy tờ xong, công an Lê văn Bảo nói với mọi người rằng: “thằng Tôn muốn thờ phượng thế nào th́ kệ nó, nhưng hôm nay ra đường th́ cho bọn mày biết tay...”.

Khoảng 30 phút sau khi hai công an rời nhà nục sư Tôn th́ Thôn trưởng Lê văn Thanh và cụm trưởng Lê văn Như đến nhà mục sư Tôn yêu cầu giải tán điểm nhóm và hăm doạ nếu tuần khác mà tới nữa họ sẽ bố trí cho người đón đánh.

Khoảng 14 giờ cùng ngày các tín đồ rời nhà mục sư Tôn để đến địa điểm cầu nguyện khác. Khi họ vừa đi khoảng 200 mét th́ công an Lê văn Hoa cùng một cộng sự viên chặn giữ xe của tín đồ Nguyễn văn Thịnh, cùng một lúc nhiều xe khác từ mọi ngă đường lao xe máy tới trong đó có tên Văn là bí thư chi đoàn thanh niên thôn Yên Cổ. Sau khi túm chị Trương thị Oanh đấm vào mắt trái, tên Văn quay sang đánh anh Thịnh và tín đồ Nguyễn thị Hoa. Khi tên Văn quay sang đánh anh Thịnh và chị Hoa th́ công an viên Hoa đấm túi bụi vào mặt chị Trương thị Oanh. Theo chị Trương thị Oanh cách đây mấy tháng chị, chồng và con chị đă từng bị kéo xuống xă và nhà văn hoá để đánh.

Ngày chúa nhật 09-4-2006, khi cả Hội thánh Phúc âm Toàn vẹn tại xă Thiệu Viên, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa đang nhóm lại như thường lệ, th́ Công an, Ban Văn hóa xă và các tổ chức đoàn thể trong xă đến ngăn trở và bắt tất cả các tín đồ tới UBND xă, yêu cầu Hội thánh không được tổ chức lễ Phục sinh CN 16-4-2006. Do vậy CN 16-4-2006 Hội thánh phải tổ chức lễ Phục sinh ở nơi kín đáo khác.

  - Ngày CN 23-4 và CN 30-4-2006 khi Hội thánh đang cầu nguyện th́ Nhà cầm quyền CSVN lại đến bắt tất cả Tín đồ lên UBND xă 2 lần nữa như CN 09-4-2006.

        - CN 07-5-2006, Mục sư Hồ Đức Tuấn, đại diện cho Giáo hội Phúc âm Toàn vẹn, đến cầu nguyện cùng Hội thánh, trong khi mọi người đang hát Thánh ca th́ Công an và đại diện các đoàn thể của xă đến giải tán các Tín hữu. Họ đă dùng những lời lẽ thô tục nhục mạ và bắt mọi Tín hữu lên trụ sở xă, tới 13 giờ 00 mới thả về.

        - CN 14-5-2006, anh Nguyễn Trung Tôn và Nguyễn Viết Thắng tới gia đ́nh chị Minh để cầu nguyện và học Kinh Thánh chung, th́ bị Ban Văn hóa xă mời cả 05 Tín hữu đến văn pḥng UBND xă để nghe giải thích rằng ở xă Thiệu Viên không ai được phép theo và sinh hoạt đạo Tin Lành, bắt các Tín hữu viết tường tŕnh rồi mới cho về.

        - Ngày 26-5-2006, chị Minh đă gửi đơn lên UBND xă xin đăng kư địa điểm cầu nguyện mỗi CN, nhưng không được chấp nhận. Đến CN 28-5-2006, Hội thánh đang cầu nguyện tại nhà chị Minh th́ tất cả bị mời lên xă lấy lời khai xong rồi mới cho về.

        - CN 04-6-2006, khi cả Hội thánh đang cầu nguyện, th́ Công an xă đến bắt tất cả Tín hữu lên UBND xă. Trên đường đi Công an đă đánh đập các Tín đồ như chị Lê, chị Đức. Trong đó có chị Nhàn bị đánh chảy máu, có thương tích. Họ đă giữ 4 người, không cho ăn trưa, sau đó lập biên bản tịch thu 4 xe đạp, và cấm các chị không được đến nhà chị Minh để thờ phượng Chúa.

        - CN 11-6-2006, các Tín đồ đă không dám họp nhau cầu nguyện v́ khiếp sợ.

        - CN 18-6-2006, lúc 8.30 sáng, trong khi bà Lan, chị Nhàn, các anh Nguyễn Trung Tôn, Hắc Ngọc Sĩ đang ngồi uống nước tại nhà chị Minh, đợi Hội thánh đến cầu nguyện, th́ Công an xă đưa tất cả Tín hữu lên UBND xă, giữ các Tín hữu ở đó không cho ăn cơm trưa đến 4.30 chiều, Công an thẩm vấn.  Nguyễn Mạnh Ḥe, trưởng Công an xă, đă đánh hai anh Tôn và Sĩ bị thương nặng, cưỡng bức mọi Tín hữu kư vào biên bản hứa không đến nhà chị Minh sinh hoạt đạo nữa. Tới 6 giờ 00 chiều họ mới thả các Tín hữu về. Ngoài Phó Công an xă Bùi Công Minh, các Công an tham gia đàn áp Tín hữu là Trần Kiệm, Hùng, Thực, Vinh, Nam.

Le Thi Duc và Nguyen Thi Nhan thuộc Hội Thánh Toàn Vẹn bị đánh đập

bởi cuộc giải tán Thánh Lễ bằng bạo lực bởi công an VN

 

 

5.7. Đối với Phật Giáo Hoà Hảo

 

Sau 1975, ĐCSVN bắt đầu cướp chiếm các cơ sở Đạo Phật giáo Ḥa Hảo, tịch thu và thiêu hủy các tài liệu truyền giáo, bắt giam các chức sắc Phật giáo Ḥa Hảo, chà đạp nhân phẩm, cấm các tổ chức các ngày lễ quan trọng trong năm theo nghi thức Đạo PGHH.

Khối tín đồ 7 triệu người PGHH tại VN là một con số nhỏ so với các tôn giáo khác, nhưng những tiếng nói này của những tín đồ PGHH  là tiếng kêu gọi thống thiết đ̣i công lư, lẽ phải và lương tri của con người    

 

1. Ngày 19/03/2001 , tu sĩ Nguyễn Thị Thu tự thiêu, ngày 05/08/2005 tu sĩ Trần văn Út tự Ḥa Lạc tự thiêu và 3 tu sĩ mỗ bụng tự sát để phản đối chính sách trù dập Phật Giáo Hoà Hảo.

 

2. Đầu tháng 2 năm 2006 cư sĩ Hà Hải bị bắt giam tù đày và bị hành hạ cho đến chết,  sau đó nhiều tín đồ PGHH ( thuần túy ) bị bắt giam tù đày và bị hành hạ, quản chế, bao vây kinh tế, bị mất việc làm và không hộ khẩu, bao vây y tế, thuốc men, bệnh tật.

 

3. Ngày 17/02/2006 Công an tỉnh Vịnh Long bắt cô Nguyễn thị Thanh, 28 tuổi, tu sĩ truyền giáo Trung ương của PGHH đem về trụ  sở công an  tra tấn, đánh đập bắt phải khai báo theo lời chỉ dẫn của công an để dàn dựng một số hồ sơ  giả mạo lừa gạt và chụp mũ, vu khống  gây chia rẽ và  lũng đoạn Giáo Hội PGHH thuần túy.

 

4. Ngày 20/05/2006  Khoảng 20 vị tu sĩ PGHH thuần túy đi dư lễ của ông Hà Hải là cố chánh thư kư Giáo Hội PGHH thuần túy, trên đường về bị Trung tá công an tên là Tài cầm đầu trên 30 tên công an, giả thường dân và xă hội đen đón đường đánh đập một cách vô cùng  tàn nhẫn và hèn hạ, làm nhiều vị tu sĩ bị trọng thương, phải đưa ngay vào bệnh viện để cấp cứu.

 

5. Ngày 12/06/2006, nhiều công an đến nhà ông Nguyễn Văn Thành là hội trưởng giáo hội PGHH TT tại huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp uy hiếp và khủng bố đe dọa, không cho tổ chức cuộc Đại lễ 18 tháng 5 Âm Lịch.Và giả thường dân kéo đến chọi đá vào nhà ông Nguyễn Phưóc Hậu là trưởng ban tổ chức Giáo Hội PGHH Thuần Túy tỉnh An Giang tại xă Long Giang (An Giang) là nơi dự trù tổ chức ngày lễ, làm bể nát cửa kính và gây thương tích người trong nhà. Sau đó công an c̣n đe doạ nếu tổ chức buổi lễ th́ sẽ bị đốt nhà.

 

6.  Ngày 12/06/2006,  khoảng 20 người do  20 tên công an  giả thường dân kéo đến nhà ông Trương Văn Đức là tổng vụ Thanh sinh PGHH Thuần Túy, toạ lạc tại thị trấn Chợ Vàm (Thánh Địa PGHH) là nơi đang chuẩn bị tổ chức ngày lễ, uy hiếp ông Văn Đức phải hủy bỏ tổ chức buổi lễ, ông Đức và các đồng đạo không đồng ư th́ bị toán công an này đánh đập dă man, xô ngă bàn hương án, đập phá, xé và  tịch thu những biễu ngữ ngày lễ.

 

7.  Ngày 25/06/2006 là ngày lễ ra mắt Giáo Hội PGHH Thuần Túy tỉnh An Giang , tổ chức nhà ông Trần Nguyên Hưởn là Hội trưởng tỉnh An Giang ở xă Long Giang. Phái đoàn  20 người từ Sàig̣n đi về An Giang để chủ toạ buổi lễ do cụ Lê Quang Liêm phái tới, bị ngăn chặn lại với những thái độ, lời nói, cử chỉ và hành vi thô bạo. Công an đă hành hung buộc đoàn xe của phái đoàn phải quay trở lại Sàig̣n.

 

8.  Ngày 27/06/2006 Công An mưu sát bằng cách dùng xe gắn máy cực nhanh chạy đâm thẳng vào cụ Lê Quang Liêm 87 tuổi để gây tử thương, nhưng rất may cụ Liêm té xuống và thoàt hiểm, chỉ bị thương nhẹ.

 

9. Tháng 8/2006, nhà cầm quyền CSVN tỉnh An Giang do 2 sĩ quan Cục bảo vệ chính trị (TC 2) từ Sàig̣n xuống chỉ đạo gồm Trung uư CA Lâm và Trung uư Tiến về miền Tây phối họp với các công an địa phương, mở một chiến dịch đồng loạt khắp các huyện, trắng trợn áp dụng các biện pháp khủng bố, trấn áp, uy hiếp, hăm doạ và hành hung đối với hầu hết các Trị sự viên, các chức sắc PGHH thuần túy. Toán đặc nhiệm chiến dịch này cưỡng bách các trị sự viên này phải “Tự giải tán”, nhưng các vị này không chịu nên nhà cầm quyền phải áp dụng đến luật rừng bằng cưởng bách quản chế và chụp mụp, vu khống là “những tên phản động, cực kỳ nguy hiểm, cấu kết với cộng đồng hải ngoại và CIA, phá hoại đến an ninh quốc gia và âm mưu lật đổ nhà nước CSVN”.  Họ phát động chiến dịch tuyên truyển vận động kêu gọi các tín đồ và người dân nên sớm xa lánh để khỏi bị tội vạ lây vào ḿnh, không được giúp đỡ, không được đến gần. Để khủng bố  tinh thần các tín đồ PGHH, công ancanh gác thường trực giam lỏng những Trị sự viên ngay trong nhà của chính họ.  Nhà ông Trần Nguyên Hưởn, hội trưởng PGHH TT tỉnh An Giang, nhà ông Nguyễn Phước Hậu, trưởng ban tổ chức giáo hội PGHH TT tỉnh An Giang, bà Trần Thị Xinh, hội đoàn phụ nữ từ thiện PGHH TT tỉnh An Giang, ông Trương Văn Đức, tổng vụ thanh sinh PGHH TT, ông Hà văn duy Hồ, trưởng ban thanh niên giáo hội PGHH TT Cần Thơ  và các vị các giáo hội PGHH TT ở các tỉnh khác cũng lâm vào t́nh trạng “ Nhà ở biến thành trại giam”.

 

10.  Ngày 3/10/2006, nhà ông Bùi văn Luốc, Hội trưởng, và nhà ông Lê văn Sóc, Hội phó GHPGHH tỉnh Vĩnh Long, bị hằng trăm công an bao vây chặt không cho đi mua thực phẩm, đến nỗi hai gia đ́nh phải tuyên bố tự thiêu tập thể nếu công an tràn vào nhà. Trước áp lực tàn bạo này, bà Nguyễn thị Ngọc Lan, Hội trưởng GHPGHH tỉnh Cần thơ đă phải công bố thư Tuyệt mệnh quyết định tự thiêu.

 

11.  ngày 10/10/2006, ông Nguyễn văn Thơ, Hội trưởng GHPGHH tỉnh Đồng Tháp, và vợ là bà Dương thị Tṛn đă bị công an bắt. Hàng trăm công an xông vào nhà ông đập phá tan tành, công an đă đánh đập người nhà ông Thơ một cách dă man, nhiều người bị ngất xỉu, công an cướp giật cả xách tay có 40 triệu đồng tiền bán lúa.

 

 

12.  Ngày  04/11/2006 công an chận đường bắt ông Lê Văn Sóc đánh đập ngất xỉu ngoài đường, đập phà vào nhà ông Sóc, cướp đi 4 lượng vàng và gần 30 triệu đồng.

 

13.  Ngày 22/11/2006 công an bắt tu sĩ Nguyễn Văn Th́ là trưởng ban thanh niên giáo hội PGHH tỉnh Vĩnh Long, đánh đập ngất xỉu giữa đường và bắt đi biệt tích.

 

14.  Ngày 22/11/2006, nhiều  công an giả thường dân xông vào nhà ông Búi Văn Luốc hội trưởng PGHH TT tỉnh Vĩnh Long đe dọa và hành hung gây nhiều thương tích cho ông Bùi văn Luốc.

 

15. Tháng 12/2006 công an đe dọa con ông Sóc là  cô Lê Thị Nhẫn, ông Nguyễn Hồng Hải, ông Hà Văn Duy Hồ, bà Nguyễn Thị Ngọc Lan cấm ra khỏi nhà …

 

16.  Ngày 13/12/2006 công an đánh đập cô Nguyễn Thị Thu Vân (con bà Tṛn) đến ngất xỉu và đá bé Phương 9 tuổi (con chị Thu Vân) ngất xỉu…

 

17. Ngày 03.05.2007 bốn chức sắc Giáo Hội Phật Giáo Ḥa-Hảo, bà Dương Thị Tṛn và các ông Nguyễn Văn Thơ, Lê Văn Sóc, Nguyễn Văn Thùy, bị toà án Đồng Tháp kết án từ 4 đến 6 năm tù.  Bốn nhà lănh đạo Phật Giáo Hoà Hảo tuyệt thực có ư định tự thiêu để bảo vệ Đạo pháp bị nhà cầm quyền CS cáo buộc tội danh “Gây rối trật tự công cộng…”.

 

18. Ngày 22/04/2008 thân nhân của tu sĩ Vơ Thanh Liêm tố cáo nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đàn áp khủng bố hành hạ và  cưỡng bức lao động đối với tu sĩ Vơ Thanh Liêm, 68 tuổi, trụ tŕ chùa Minh Quang, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, thuộc Giáo Hội Phật Giáo Hoà Hảo hiện đang bị giam cầm tại K2-Z30A ở Xuân Lộc tỉnh Đổng Nai, khiến ông phải tuyệt thực để phản đối.     

 

19.  Hiện nay có 15 cán bộ cao cấp lănh đạo cấp Trung ương và cấp tỉnh đang bị CSVN cầm tù từ 5 năm đến 6 năm là : tu sĩ Nguyễn Văn Điền, tu sĩ Vơ Văn Thanh Liêm, tu sĩ Nguyễn Văn Th́, ông Nguyễn Văn Thơ, bà Dương thị Tṛn, ông Lê văn Sóc, ông Vơ văn Bửu, Bà Mai thị Dung, ông Nguyễn Thanh Phong, bà Nguyễn Thị Hà, ông Tô văn Mănh, ông Nguyễn Thành Long, ông Lê văn Tính, ông Bùi tấn Nhă và anh Nguyễn văn Thuỳ (tự Tam)

 

20. Các Trị sự viên PGHH bị cưởng bách quản chế (tù tại gia) có công an kiểm soát trước nhà gồm Ông Trần Nguyên Hưởn, ông Nguyễn Phước Hậu, bà Trần thị Xinh, ông Trương văn Đức, ông Hà văn Duy Hồ, bà Nguyễn thị Ngọc Lan.

 

 

5.8. Đối với  Đạo Cao Đài

Ngày 20 tháng Chín năm 1978  Mặt trận Tổ quốc tỉnh Tây Ninh cho công bố một văn bản kết án các chức sắc cao cấp của đạo Cao Đài. Bản Án năm 1978 gồm trên 5 ngàn chữ, phân tích 4 giai đoạn thành h́nh và hoạt động của Đạo Cao Đài. Các giai đoạn này, theo nguyên văn Bản Án, bao gồm, “Thời Kỳ Thành Lập” từ 1926 đến 1938, “Thời Kỳ Làm Tay Sai Cho Phát Xít Nhật” từ 1939 đến 1945, “Thời Kỳ Làm Tay Sai Cho Đế Quốc Mỹ và Ngụy Quyền Miền Nam” từ 1956 đến 1975, và Thời Kỳ từ 30 tháng Tư, 1975 đến thời điểm ra đời bản án, tức tháng 9 năm 1978.  Mặt Trận Tổ  Quốc tỉnh đưa ra cái gọi là “Bản án Cao Đài” đă cáo buộc những nhân vật khai sáng Đạo, trong đó có Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc, là tay sai cho Pháp, Nhật, Mỹ. Nhà nước cáo buộc “Đạo Cao Đài là một tổ chức chính trị đội lốt tôn giáo, lợi dụng niềm tin của quần chúng và làm tay sai cho đế quốc.”

Chính quyền vu cáo là đạo Cao Đài đi theo đế quốc để đối lấy quyền lợi, nhận tài trợ từ đế quốc và Ngụy Quyền, sau đó chính quyền tỉnh Tây Ninh ra lệnh tịch thu “tài sản, dinh thự, các cơ sở kinh doanh của Hội Thánh” với lư do đây “không phải là của riêng ai, mà là tài sản của đế quốc đă rút chạy để lại”. Trên căn bản này, chính quyền tuyên bố cần phải “tước đoạt những phần tài sản của chức sắc do tham ô, ăn cắp, và dựa thế lực đế quốc tạo ra”.

Một năm sau, chính quyền công bố quyết định 124/QĐ-UB, ra lệnh giải thể Hội Thánh và guồng máy hành chánh của Đạo từ trung ương đến địa phương. Một phần lớn tài sản của đạo Cao Đài cũng bị sung công quỹ.

Bốn năm sau khi chính quyền công bố Bản Án, ngày 3-5-1982, một số Sĩ Tải chức sắc của Hiệp Thiên Đài cho công bố một văn bản gởi một số cơ quan và cá nhân, trong đó có Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng, tức thủ tướng, và Chủ Tịch Hội Đồng Nhà Nước, tức chủ tịch nước.

Văn bản có tên “Bản Căi Án Cao Đài” phản bác những cáo buộc nêu ra trong Bản Án năm 1978, đồng thời nói rơ rằng: “Đạo Cao Đài trải qua cuộc khủng hoảng trầm trọng nhứt trong lịch sử Đạo, do Bản án của Mặt Trận Tổ quốc tỉnh Tây Ninh đề ngày 20-9-1978, lên án các bậc tiền bối có công khai sáng mối Đạo.

Bản Căi Án viết rằng, văn kiện tố giác các tiền bối Cao Đài không có chứng tích xác thật, mà chỉ ghép thành một “Bản án” không có phiên toà xét xử, và bị cáo là những vị đă qua đời từ lâu.

Các tác giả của Bản Căi Án viết rằng họ “không vội vàng để chờ xem kết quả của Bản Án, và nay mọi diễn biến đă an bài, bản án cùng với thời gian lùi vào quá khứ,” hệ lụy từ Bản Án năm 1978 gây ra cho đạo Cao Đài, không ǵ khác hơn, là “Những tín hữu không đồng ư với Bản án bị bắt bớ, giam cầm”, “Hội Thánh bị giải thể cùng với ba cơ quan Cửu Trùng Đài, Hiệp Thiên Đài và Phước Thiện để thành lập “Hội Đồng Chưởng Quản” của nhà  nước thay thế. Cùng với sự giải tán Hội Thánh, “nhiều dinh thự nội ô Toà Thánh cùng các động sản, bất động sản của Đạo đă bị trưng dụng.”

Hội Đồng Chưởng Quản được mặt trận Tổ Quốc cho thành lập trong bối cảnh Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ bị cưỡng bách giải thể năm 1979, khởi thuỷ gồm 12 vị, nay lên đến 36 vị. Năm 1997, tức 19 năm sau Bản Án Cao Đài và 18 năm sau lệnh giải thể Hội Thánh, Hội Đồng Chưởng Quản lập ra một tổ chức mới, mang danh hiệu “Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Cao Đài Tây Ninh” với Hiến chương mới và với sự chấp thuận của nhà nước Việt Nam. 

 

Năm 2006, chính quyền CS Việt Nam đă cho đưa hài cốt của Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc, nhân vật mà trước đó gần 30 năm họ kết án là “phản quốc” từ Cambodia trở về Việt Nam, nhập Bửu Tháp tại Ṭa Thánh Tây Ninh để xoa dịu những bất măn của tín đồ Cao Đài…

Ngày 17 tháng Ba vừa qua (tức là ngày 10 tháng Hai năm Mậu Tư, Âm Lịch) một số tín đồ đạo Cao Đài từ các tỉnh, địa phương đă  đă tập trung về Ṭa Thánh Tây Ninh để cầu nguyện và đưa ra một số yêu cầu với chính quyền, liên quan đến giáo luật và cơ sở của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Nhưng cuộc cầu nguyện bị ngăn chặn ngay từ đầu. Một số người bị công an mời làm việc, một số bị bắt và được trả tự do sau đó. Hai yêu sách đă được đưa ra trong cuộc cầu nguyện ngày 17 tháng Ba tại Gốc Bồ Đề trước Cửu Trùng Thiên thuộc Ṭa Thánh gồm có:

- Thứ nhất, phục hồi Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ theo đúng Tân Luật và Pháp Chánh Truyền.

 - Thứ nh́, Hội Đồng Chưởng Quản phải ra khỏi, và trao trả Ṭa Thánh lại cho khối nhơn sanh Cao Đài nguyên thủy.

Ngày 22 tháng Bảy vừa qua, 12 vị thuộc phía Cao Đài không chấp nhận Hội Đồng Chưởng Quản, ra Hà Nội, gặp và trao tận tay đại diện của Ban Tôn Giáo Chính Phủ tờ Phúc Sự cùng một số yêu cầu và kiến nghị.

Ông Nguyễn Đắc Tuấn, phó Vụ Trưởng Vụ Cao Đài thuộc Ban Tôn Giáo Chính Phủ trả lời phỏng vấn đài RFAi, nói rằng “đây là những kiến nghị của tín đồ, chứ không phải chức sắc” do đó “xin ghi nhận để nắm t́nh h́nh chứ không đặt vấn đề giải quyết v́ họ không có tư cách pháp nhân đại diện Giáo Hội.”

 

C̣n hàng vạn sự việc vi phạm tự do tôn giáo khác bởi nhà nước và đảng CSVN. Sẽ có hàng triệu vi phạm khác được trưng bày ra ánh sáng, nếu quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí thực sự được tôn trọng tại VN.  

 

6. Đàn áp dân tộc thiểu số

6.1 Luật Quốc tế

Điều 27 (CƯQTDSCT): Đối với các cộng đồng thiểu số về chủng tộc, tôn giáo, hay ngôn ngữ tại các quốc gia hội viên, Công Ước này bảo đảm cho các thành phần thiểu số cũng với những người khác trong cộng đồng của họ được quyền hưởng văn hoá riêng, được truyền giáo và hành đạo riêng, và được sử dụng ngôn ngữ riêng của họ

6.2 Những trường hợp tiêu biểu vi phạm

Trường hợp 1: Dân tộc Chăm tại thôn Văn Lâm

Dân tộc Chăm là một sắc dân sinh sống chuyên về nghề nông nghiệp, lâm nghiệp và chăn nuôi, có một lănh thổ đất đai riêng được công nhận kể từ triều đại vua Thiệu Trị, bao gồm hầu hết những ruộng rẫy nằm trên đồng bằng, ở phía Đông giáp biển Nam Hải và núi rừng, ở phía Tây giáp tỉnh Lâm Đồng, được xem như là kho sản phẩm lâm nghiệp và nông trường chăn nuôi dành riêng cho dân tộc Chăm. Cũng nhờ qui chế đất đai này, dân tộc Chăm có đủ cơ hội để phát triển và ổn định trong môi trường nhân sinh của họ.

Sau ngày chiếm Miền Nam Việt Nam vào năm 1975, nhà nước CS Việt Nam tịch thu đất đai của 73 hộ người Chăm thôn Văn Lâm, tổng cộng hơn 320 mẫu, để xác nhập vào nông trường quốc doanh Quán Thẻ thuộc xă Phước Nam, huyện Ninh Phước, tỉnh Thuận Hải (cũ). Năm 1996, Nhà Nước ra lệnh giải thể nông trường này. Thay v́ phải trả lại 320 mẫu đất đai cho người Chăm thuộc quyền sở hữu của họ, tỉnh Ninh Thuận lại quyết định cấp phát một số đất đai trên cho người Kinh phục vụ cho nông trường Quán Thẻ làm sở hữu, phần c̣n lại đem bán cho công ty tư nhân Vịnh Hạ Long nhưng không đưa ra một nguyên nhân chính đáng nào, một qui ước bồi thường như thế nào, bất chấp sự khiếu nại và kêu oan của 73 hộ người dân Chăm, chủ nhân lâu đời của 320 mẫu đất trên.       

Từ năm 1996, 73 gia đ́nh dân Chăm bắt đầu đệ tŕnh đơn khiếu kiện đ̣i lại đất đai của ḿnh, nhưng chính quyền tỉnh Ninh Thuận không giải quyết. Năm 2004, dân làng người Chăm thôn Văn Lâm kéo nhau đến tận Hà Nội để nhờ chính quyền trung ương can thiệp, nhưng cũng không có kết quả. Năm 2006, họ quyết định xuống đường biểu t́nh đ̣i hỏi chính quyền địa phương giải quyết hồ sơ đất đai này, nhưng không ai chú tâm đến nguyện vọng của họ.

Ngày 06/12/2007, tập thể đàn bà và phụ nữ Văn Lâm tập trung biểu t́nh trước trụ sở UBND tỉnh Ninh Thuận đ̣i chính quyền trả lại đất đai của họ. Thay v́ giải quyết nguyện vọng của người dân, tỉnh ủy Ninh Thuận điều động công an và bộ đội dân pḥng dùng hai chiếc xe cơ giới chở những đàn bà và phụ nữ Chăm Văn Lâm vứt bỏ ở huyện Tuy Phong, tỉnh B́nh Thuận và ở Cam Ranh, tỉnh Khánh Ḥa cách thị xă Phan Rang khoảng chừng 50 cây số.

Ngày 23/07/2008, nhân có phái đoàn Thủ Tướng Việt Nam và tỉnh ủy Ninh Thuận đến khảo sát dự án xây dựng ḷ điện hạt nhân ở khu vực Phước Dinh, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận, 73 hộ dân Chăm ở thôn làng Văn Lâm, hầu hết là đàn bà và phụ nữ, xuống đường biểu t́nh, ngăn chặn xe của phái đoàn Thủ Tướng Việt Nam và tỉnh ủy rất ôn ḥa, bất bạo động với hai biểu ngữ nhỏ nhoi viết bằng tay “Thủ Tướng cứu dân với” và “Đền bù đất cho 73 hộ”. Rất tiếc đội ngũ công an và bộ đội dân pḥng dùng quyền lực để giải tỏa hàng ngũ đàn bà và phụ nữ, biến vụ biểu t́nh bất bạo động thành những vụ ẩu đả giữa đôi bên.

Người Chăm là một dân tộc bản địa thật thà, chất phác, đă từng hiện hữu trên khu vực này từ ngày khai thiên lập địa và gắn liền với đất đai của họ như một tín ngưỡng thiêng liêng. Chính v́ thế, mọi chính sách chiếm đoạt đất đai của dân bản địa trở thành một hành động vi phạm đến thế giới tâm linh của dân tộc này.

Trường hợp 2: 300 gia đ́nh người Chăm Chiên Thành (Champa) tỉnh Ninh Thuận

Đơn khiếu kiện của 300 gia đ́nh sắc dân Chăm ở tỉnh Ninh Thuận gửi cho Nhà Nước VN,  Đại diện Đảng CSVN, UBND cai trị dân tộc Chăm Chiên Thành tỉnh Ninh Thuận (Champa),  các cơ quan Quốc Tế Liên Hiệp Quốc, cơ quan Quốc Tế Nhân Quyền, các Chính phủ trên thế giới, các tổ chức ONG, các cơ quan truyền thông trong và ngoài nước, các cơ quan đấu tranh cho công bằng và toà án Công lư trong và ngoài  nước:

Tôi là Thành Ngôn (Chế Viên Phương) tốt nghiệp Đại học, nghề nghiệp bán thuốc gia truyền, vô gia cư, đại diện cho sắc Dân Chăm ở tỉnh Ninh Thuận, và Thành Vi (Chế Thiện Tâm) Trung học, nghề nghiệp Châm cứu, vô gia cư, Lương Thông, nghề bán thuốc rày, vô gia cư, Sầm Văn Biên, công nhân .

Chúng tôi là 300 gia đ́nh người Chăm Chiên Thành (chưa tập trung các nạn nhân khác) bị mất đất đai, mất tài sản, mất nhà cửa, mất cả quyền làm người, bị chà đập nhân phẩm, phải  trốn chui tại các  thôn Rọ Ḅ, thuộc vùng 1, vùng 2 xă Khánh Hải, Thôn B́nh Nghĩa, Tông  Tư, Rọ Ḅ, Phương Phải .

Chúng tôi mất tổ tông, dù di tích xưa vẫn c̣n đó, với bao thế hệ trôi qua , trăi qua bao chế độ, đă sống âm thầm, trong thời kỳ nào ,chúng tôi cũng được hưởng sự miễn thuế  và  được hưng nhiều ưu tiên khác,có khi được ưu đăi cho những con em chúng tôi, muốn tham gia chính quy ền, xă hội, quân đội cũng được giúp đỡ tận t́nh.

Trước đây chúng tôi có đất rẫy , đất rưộng , nhà cửa , tất cả là gia tài  từ thời Cha Ông xa xưa để lại ,hợp pháp của chúng tôi trăi qua nhiêu thời đại.   

Nhưng từ sau năm 1975 tới nay , đồng bào chúng tôi bị nhà cầm quyền CSVN đối xử   thậm tệ  bị chà đập nhân phẩm , bị mất cả quyền làm người , mất tất cả  nhà cửa  đất đai tài sản , không c̣n đất để canh tác làm ăn .tụ  tập tôn giáo thờ cúng cũng bị cấm đoán.

Như vậy th́ quư vị có thể  h́nh dung là người Chăm Chiên Thành của chúng tôi phải sống ra sao rồi .Chính v́ sự đàn áp thô bạo, bị chà đập nhân phẩm, mất cả quyền làm người , bị cướp của , đối xử bất công với chúng tôi của nhà cầm quyền CSVN .

Chúng tôi 300 hộ gia đ́nh người Chăm Chiên Thành  sẵn sàng chịu mọi sự nguy hiểm , để đấu tranh đ̣i Nhân Quyền, giành lại quyền con người, được sống như mọi người trên thế giới ở các nước tự do đếu có, giành lại và đất đai của Cha Ông , giành lại quyền tự do tôn giáo mưu cầu hạnh phúc mà không ai có thể phân biệt đối xử với dân tộc thiểu số ít  người như chúng tôi. .

1/Yêu cầu nhà cầm quyền CSVN trả lại ngay đất đai, nhà cửa, và những ǵ đă cướp đoạt của chúng tôi ,

2/Yêu cầu hăy  ngưng ngay nhũng sự trù đập chà  đập nhân phẩm , khủng bố ,

3/Yêu cầu hăy  ngưng ngay nhũng sự vu khống , chụp mũ cho chúng tôi là bị thế lực thù địch diễn biến hoà b́nh tại hải ngoại gây chia rẽ và âm mưu gây mất ổn định  đến nền an ninh quốc gia .

4/Yêu cầu hăy  ngưng ngay nhũng vụ  vừa ăn cướp vừa la làng  để lừa gạt , giả dối , che mắt cả nước và quốc tế.

5/Yêu cầu Các cơ quan Liên Hiệp Quốc và các chính phủ giúp đỡ chúng tôi hoặc cho  chúng tôi rời khỏi Việt Nam để được định cư ở một nước có Tự Do Nhân Quyền .C̣n ngược lại cứ bức hiếp Dân tộc chúng tôi , sẽ đi đến cái ngày chúng tôi phải tự sát tập thể.

Ninh Thuận , ngày 01 tháng 12 năm 2005

Đại diện cho 300 hộ gia đ́nh bị chà đập nhân phẩm bị mất đất đai về tay các cán bộ CSVN . Kư tên Chế Phục Hưng và Chế Viên Phương ( Thành Ngôn)

Trường hợp 3: Thanh niên Chăm bị tra tấn đến chết trong trại giam tại Việt Nam 

            Ông Bá Văn Bản, 25 tuổi, một thanh niên người Chăm ở thôn Văn Lâm, xă Phước Nam, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận bị bà bị bà Thị Bưởi tự tiện trưng dụng đất đai của ông ở gần khu vực thôn Hậu Sanh, xă Phước Hữu, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận, để trồng cây đào. Ông Bá Văn Bản quyết tâm đ̣i lại quyền sở hữu này. Sau nhiều lần hứa hẹn sẽ trả lại đất đai cho ông, bà Thị Bưởi vẫn không thực hiện lời hứa. Trước t́nh trạng này, ông Bản đến khu đất đai của ḿnh chặt vài cây đào trong rẫy để bày tỏ sự bức xúc của ḿnh. Chính v́ thế, gia đ́nh bà Bưởi làm đơn khiếu nại tŕnh lên công an huyện Ninh Phước yêu cầu ông Bản phải bồi thường sự thiệt hại mấy cây đào mà ông ta đă chặt bỏ.

Ngày 02/06/2008, công an đến bắt ông Bản, đưa vô trại giam của Huyện Ninh Phước. Hơn hai tháng trong tù, ông Bản bị tra tấn đến nỗi trọng thương hấp hối chờ chết. Trước t́nh thế này, công an mới chịu giao ông Bá Văn Bản cho gia đ́nh đưa ông đến bệnh viện tỉnh Ninh Thuận để cấp cứu. Một ngày sau, ông Bá Văn Bản từ trần vào lúc 10g đêm ngày 27-08-2008 v́ mang thương tích quá nặng.

Trước hành vi quá hung ác tàn bạo này, dân làng người Chăm thôn Văn Lâm kéo nhau xuống đường biểu t́nh yêu cầu chính quyền nhà nước Việt Nam phải tôn trọng nhân quyền và giải thích lư do ông Bá Văn Bản bị tra tấn trong trại giam cho đến chết.

Trường hợp 4: Tịch thu tài sản người Ê-đê

Truyền đạo Y Soăi, người Ê-đê đă cho biết:

Chúng tôi thuộc sắc tộc thiểu số sống trên mảnh đất Tây Nguyên. Vùng đất Tây Nguyên là vùng đất màu mỡ, giàu tài nguyên thiên nhiên và kinh tế phát triển mạnh về mặt trồng trọt, chăn nuôi gia súc và nó góp phần thu nhập cho đất nước hơn 30% tính cho cả nước, chủ yếu là sản xuất càphê, cao su, cây hoa quả và lúa gạo. V́ thế, chính quyền Cộng Sản Bắc Việt nhận biết được vùng đất tốt của chúng tôi đang sinh sống. Vậy, họ buộc phải đánh đuổi và tiêu diệt chúng tôi cho bằng được, họ thực hiện nhiều h́nh thức khác nhau. Họ tịch thu đất đai của chúng tôi rồi thành lập nông trường, công trường, sau đó họ phân chia cho con cháu Cán Bộ và họ hàng của Cán Bộ. Chúng tôi bị họ đẩy đi vùng sâu vùng xa. Tôi lấy một dẫn chứng cụ thể là tại làng Buôn Tara Puôr của chúng tôi, chính quyền tịch thu đất đai của chúng tôi đă thành lập nông trường, gọi là nông trường Thắng Lợi và nông trường Cư Pul với diện tích hơn 1000 hécta, địa điểm thuộc xă Ḥa Đông, huyện Krông Păc, tỉnh Dăklăk. Người dân lành Buôn Tar Puôr không được hưởng một cái ǵ trừ việc bị tịch thu đất đai để thành lập nông trường của chính quyền.”

Trường hợp 5: Đàn áp người Ê-đê

Sự đàn áp của nhà nước đối với dân tộc thiểu số Montagnard đă dẫn đến các cuộc biểu t́nh của tại Tây Nguyên vào năm 2001 và năm 2004, và gần đây nhất, vào giữa tháng 4 năm 2008. Sau ba cuộc biểu t́nh hàng trăm người Montagnard bị nhà nước CSVN giam giữ theo lời tường thuật của Truyền Đạo Y Soăi: ”chúng tôi nhận được món quà của Cộng Sản ban tặng: đó là hàng trăm người bị chết sau khi bị Cộng Sản đàn áp và tra tấn. Sau khi được thả về, có người được 15 ngày, 01 tháng, có người 02 tháng sau lần lượt bị chết do hậu quả việc tra tấn Cộng Sản gây ra. Hơn 300 người bị cầm tù ở Miền Bắc hiện nay do Cộng Sản bắt từ năm 2001 cho tới nay, có người đă bị xử án tù 2 năm đến 18 năm tù giam. Lư do bị bắt: người dân của chúng tôi đ̣i tự do tôn giáo, đ̣i lại tự do dân chủ và đ̣i lại đất đai bị chính quyền tịch thu. Và cho đến bây giờ chính quyền Cộng Sản vẫn tiếp tục đàn áp, bắt bớ và ngược đăi. Nhất là: có sự kiện quan trọng diễn ra trong nước hoặc là đến các ngày lễ quan trọng trong năm, chẳng hạn: ngày lễ ca ngợi đất nước, ngày lễ tôn giáo, chúng tôi luôn luôn bị Cộng Sản mời lên mời xuống hoặc là bắt cóc để điều tra và tra tấn, và t́m cách bắt giam. V́ thế, chúng tôi phải bỏ xứ sở quê hương, người thân đến xin sự che chở và bảo vệ của cộng đồng quốc tế.

Một thí dụ dẫn chứng cụ thể gần đây nhất: trường hợp của Y- Ben Hdơk, sinh năm 1979. Nguyên quán: Buôn Brê, xă Hoà Phú, Thành Phố Buôn Ma Thuột, Tỉnh Đăk Lăk. Trú quán lập gia đ́nh: Buôn Đung, xă Cư Êbur, Thành Phố Buôn Ma Thuột, Tỉnh Đăk Lăk. Anh ta bị Cộng Sản bắt cóc vào ngày 26/04/2008, sau đó bị Công An điều tra và tra tấn rất nặng nề và dă man. Sau khi Công An thấy sức khoẻ của anh bị nguy hiểm, th́ chính Công An đă đưa anh ta đi bệnh viện, để rồi anh ta đă chết vào ngày 01/05/2008 tại bệnh viện tỉnh Đăk Lăk. Sau đó Công An gọi người nhà đến để nhận xác chết tại bệnh viện và Công An đưa ra điều kiện không được phép chụp h́nh xác chết và Công An kiểm soát từ ngày chết cho đến ngày chôn cất.”

Trường hợp 6: Giải tán Hội Thánh Tara Puôr của người Ê-Đê

Người dân Tây Nguyên hầu hết đều theo đạo Tin Lành. Nhưng Cộng Sản không cho phép giáo phái Tin Lành phát triển và tồn tại tại vùng Tây Nguyên. Cộng sản đàn áp, giải tán giáo phái Tin Lành từ năm 1975 cho đến nay. Nhà thờ tại trung tâm Buôn Ma Thuột lại bị chính quyền phá hủy, các vị Mục Sư, Thầy Truyền Đạo bị bắt giam.

Cụ thể nhất là vào thời gian gần đây nhất, trường hợp hội thánh Tin Lành làng Buôn Tara Puôr, thầy truyền đạo và truyền đạo Y Soăi (khi đó là Trưởng Ban Thanh Niên Hội Thánh) bị CA Cộng Sản bắt giam từ ngày 19/9/2002 đến đầu tháng 3/2003. Trong thời gian thầy truyền đạo Y Soăi bị giam, Hội Thánh Tara Puôr của họ bị nhà cầm quyền cộng sản giải tán, tịch thu Kinh Thánh và tài sản của Hội Thánh. Theo lời kể của truyền đạo Y Soăi “H́nh thức đàn áp này không chỉ riêng Hội Thánh Tara Puôr của chúng tôi mà các Hội Thánh khác toàn vùng đều bị Cộng Sản đối xử như vậy”.

Trường hợp 7: Đàn áp cuộc biểu t́nh của Các Dân tộc thiểu số trên Cao Nguyên

Ngày 14 /4/ 2008. Có hơn 8000 người Thượng sắc tộc Jarai, ở xă Lgia Tô thuộc huyện Chư Sê, Gia Lai, đông nhất là tại một số nơi như là Ia Uor, Cu Drang, Ia Sion, R’Sai, buôn K’nút, của huyện K’rông Păk khoảng 7000 nguời , và  trên 1000 người Thượng Êđê khác tại các  huyện Đức Cơ ,Cu Sê , Ia Grai , Đăk Đoa , Gia Le , Ayumpa , Phú Thiện , tỉnh Gia Rai , huyện Ia Hleo , K’ rông Pawk , K’rông A N ăng , Lắc , K’rông Nô tỉnh Đắc Lắc, các huyện Plei Rắc , Sa Thầy , Honrobang tỉnh Kon Tum Buôn -Tiêu , Buôn Ê-nao, Chư M’Ngal, E‘h Leo, thuộc tỉnh Daklak biểu t́nh ôn ḥa đ̣i trả tự do cho 350 người Thượng đang bị tù vào năm 2001 và 2004 và đ̣i chế độ CSVN trả lại nhà, nương rẫy, đất đai , đă bị cướp đoạt cũng như đ̣i lại quyền tự do tôn giáo. (350 đồng bào gốc sắc tộc đang trong t́nh trạng chết dần ṃn giữa lao tù như cụ Siu Lul. thêm một vị lănh đạo Thiên Chúa Giáo gốc sắc tộc qua đời trong tù ngục Cộng Sản sau nhiều ngày tháng bị bỏ đói, bỏ khát và tra tấn cực h́nh. Cụ Siu Lul, 62 tuổi, cư dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai, Trung phần Việt Nam, bị đưa ra Bắc giam cầm tại trại tù Hà Nam suốt từ năm 2004)

Nhà cầm quyền CSVN đă gửi 1500 lính thuộc quân đội Nhân Dân, lực lượng cảnh sát 113, cảnh sát cơ động, nhóm xă hội đen (giả) do TC2 điều động, công an địa phương do Thiếu Tá Nông Văn Lưu chỉ  huy đàn áp bằng bạo lực một cách khốc liệt. Họ dùng dùi cui và roi điện (của Pháp cung cấp) đánh đập túi bụi vào cả đàn bà và trẻ con, nhiều ngựi bị thương, một số bị tử vong.     

Nhiều người sắc tộc thiểu số khác đă phải chạy trốn vào rừng sâu hay chạy sang Cambodge.

Trường hợp 8: Dân Tộc H’Mong

Trong những năm vừa qua có vài chục ngàn người thiểu số H'mong theo đạo Tin lành từ các tỉnh Lai Chau, Lao Cai, Ha Giang và Tuyên Quang bị lùng bắt v́ theo đạo và phải chạy trốn vào các tỉnh miền Nam hay vào rừng. Một số bị cầm tù hay bị bắt vào các trại cưỡng bức lao động. Những cuộc hội họp gia đ́nh cũng bị giải tán bằng bạo lực. Nhà thờ bị đóng cửa.

Nhân chứng tường thuật, vào năm 2003 cán bộ nhà nước đánh đập ông Giang Thanh Phia tại Lai Chau cho đến chết, bởi v́ ông ta cương quyết giữ niềm tin của ḿnh. Người con trai 10 tuổi của ông Giang Thanh Phia cũng bị tra tấn cho đến chết v́ không chịu khai nơi ẩn lấp của cha cậu.

Tháng 11/2003 công an CSVN bắt nhà lănh đạo dân tộc H'Mong, ông  Ma Van Bay tại Binh Phuoc và đưa ông ta về Ha Giang. Ông Ma Van Bay sinh quán tại Hà Tây, người đă dịch Kinh Thánh ra tiếng H'Mong, năm 1997 đă chạy trốn vào miền Nam trước sự lùng bắt của CA CSVN. 

Trường hợp 9: Kpa Kloh

 

Kpa Kloh sinh ngày 12/06/1966, một cư dân làng Ploi, xă Hbong, Huyện Cu Se, tỉnh Gia Lai, bị công an CSVN bắt ngày 12/10/2004, sau đó bị thuyên chuyển qua nhà tù tỉnh Phu Yen. Trong nhà tù  Kpa Kloh bị tra tấn thường xuyên. Họ đă dùng cây, gậy đánh vào người Kpa Kloh hoặc mang giầy cứng đá vào Kpa Kloh. 

 

Ngày 08/07/2007 công an đă dùng gậy đánh vào đầu Kpa Kloh đến khiến Kpa Kloh bất tỉnh và chảy máu tai, mũi, miệng. Ngày 10/12/2007 và 09/02/2008 công an tra tấn Kpa Kloh tiếp tục. Kpa Kloh chết ngày 10/02/2008 sau những lần tra tấn của công an trại tù Phú Yên, để lại người vợ là R’mah H’Ne và 6 con thơ.

 

Trường hợp 10: Dân tộc Jarai

a/ Vào ngày 30.07.2008 công an CSVN  Huyện Dak Doa, tỉnh Gia Lai bắt giam 4 thành viên của Hội Thánh Dân Tộc thiểu số Degar:

1- Noh, sinh năm 1957, cư ngụ tại làng Ploi Brel Dor 1, xă Golar, Dak Doa tỉnh Gia Lai.

2- Yu, sinh năm 1937, cư ngụ tại làng Ploi Brel Dor 2, xă Golar, huyện Dak Doa tỉnh Gia Lai.

3- Yuh, sinh năm 1962, cư ngụ tại làng Ploi Brel Dor 2, xă Golar, Dak Doa tỉnh Gia Lai.

4- Amlinh, sinh năm 1938, cư ngụ tại làng Ploi Tuoh Ktu, xă Golar, Dak Doa tỉnh Gia Lai.

Yu, Yuh và Amlinh được thả ngày  17/08/2008. Noh vẫn bị giam giữ, trong cuộc thẩm tra ngày 20/08/2008 công an tra khảo lư do do ông tổ chức phiên họp tại nhà Amlinh. Noh cho công an biết, ông và các thành viên Hội Thánh cầu nguyện cho ông Kok Ksor[2] được b́nh an và trong lần gặp gỡ tới với dân biểu quốc hội Âu Châu, ông Kok Ksor thuyết phục quốc hội Âu Châu ủng hộ họ trong cuộc đấu tranh cho nhân quyền. Công an CSVN không cho biết lư do giam giữ ông Noh.

b/ Ngày 03/08/2008 công an CSVN tra khảo 4 thành viên của Hội Thánh Tin Lành Degar cư ngụ tại làng Ploi Bang, xă Ia Chia, Huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai về những sinh hoạt của Hội Thánh. 4 người bị tra khảo cách biệt:

1) Puih Kui, sinh năm 1989. 

2) Rmah H’Di, sinh năm 1964.

3) Rmah H’En, sinh năm 1963.

4) Puih Henh, sinh năm 1968.

 

c/ Ngày 30/08/2008 khoảng 30 công an CSVN bao vây làng Cuor Knia, Huyện Buon Don, Tỉnh Dak Lak và bắt 3 thanh niên dân tộc thiểu số:

1) Y-Ruk Buon Ya, 19 tuổi.

2) Y-Yong Hwing,

3) Y-Than Buon Ya, 20 tuổi

với lư do “có điện thoại di động”.

DANH SÁCH TÙ NHÂN CỦA HIỆP HỘI THÔNG TIN LÀNH CÁC DÂN TỘC VN

Số
thứ tự

HỌ VÀ TÊN

LANG

TỈNH

GIAM GIỮ
TẠI

LOẠI

1

K-so-Ti-No

Pleireeng III

Gia lai

Hà nam

Tôn giáo

2

Rah-Lan-Chel

Pleiboongguai

Gialai

Đăklăk

Tôn giáo

3

Y-B-Rek

PleiKách

Gialai

Hà nam

Tôn giáo

4

A-Aoh

PleiKleeng

Kon tum

Hà nam

Tôn giáo

5

A-Chữi

PleiKleeng

Kon tum

Phú yên

Tôn giáo

6

A-Kak

PleiKhukna

Kon tum

T20-Gialai

Tôn giáo

7

Y- Dim

Pleimơnú

Gialai

Phú yên

Tôn giáo

8

Y- Thốt

Pleimơnú

Gialai

Phú yên

Tôn giáo

9

Rah-lan-Lâm

Pleimơnú

Gialai

Phú yên

Tôn giáo

10

Y- Lắp

PleiDichle

Gialai

Phú yên

Tôn giáo

11

Y- Kíp

PleiDichle

Gialai

Phú yên

Tôn giáo

12

Y- Nim

PleiBoongngol

Gialai

Hà nam

Tôn giáo

13

Y- Rik

PleiBoongngol

Gialai

Hà nam

Tôn giáo

14

Y – Blo’k

PleiBoongngol

Gialai

Hà nam

Tôn giáo

15

Y – We’o

PleiBôngngol

Gialai

Hà nam

Tôn giáo

16

Y – B-Rông

PleiBoongFun

Gialai

Hà nam

Tôn giáo

17

Y – Em

PleiBoongFun

Gialai

Hà nam

Tôn giáo

18

Y – Rim

PleiYalang

Gialai

Hà nam

Tôn giáo

19

Y – Hir

Plei Sao

Gialai

Phú yên

Tôn giáo

20

Y Nghéo

Plei Kách

Gialai

Phú yên

Tôn giáo

21

Â-Ja-Joong

Plei O

Kon tum

Phú yên

Tôn giáo

22

A-B-Rí

Plei Rắc

Kon tum

Phú yên

Tôn giáo

23

A-Phương

Plei Rắc

Kon tum

T20 Gialai

Tôn giáo

24

A-B-Yaih

Plei Rắc

Kon tum

T20 Gialai

Tôn giáo

25

A- Tuôn

Plei Rắc

Kon tum

T20 Gia lai

Tôn giáo

26

A-Ngại

PleiKleeng

Kon tum

Phú yên

Tôn giáo

27

A- Phon

PleiKleeng

Kon tum

Phú yên

Tôn giáo

28

A- Lời

PleiKleeng

Kon tum

Phú yên

Tôn giáo

29

A-Che

Plei Rắc

Kon tum

T20-Gia lai

Tôn giáo

30

A-Phúch

Plei Rắc

Kon tum

T20-Gialai

Tôn giáo

31

K-păh- B́nh

Plei Taoko

Gialai

Hà nam

Tôn giáo

32

K-păh- Cin

Plei Taoko

Gialai

Hà nam

Tôn giáo

33

Rơ-manh-Ce

Plei Taoko

Gialai

Hà nam

Tôn giáo

34

Siu-B-Lok

Plei B-Reeng

Gialai

Phú yên

Tôn giáo

35

Siu-Ho

Plei Taoko

Gialai

Phú yên

Tôn giáo

36

Puih-A-Lum

Plei Taoko

Gialai

Phú yên

Tôn giáo

37

Rơ-cơm-Wit

Plei Taoko

Gialai

Phú yên

Tôn giáo

38

K-so-Phong

Plei Taoko

Gialai

Hà nam

Tôn giáo

39

Puih-Hih

Plei Taoko

Gialai

Hà nam

Tôn giáo

40

Nai-H’Ngat

Plei Kli

Gialai

Phú yên

Tôn giáo

41

H’Thui

Buôn U

Đăklăk

Đăktrung

Tôn giáo

42

A-Nheng

Plei Rắc

Kon tum

T20-Gialai

Tôn giáo

43

A-G-Roh

Plei Rắc

Kon tum

T20-Gialai

Tôn giáo

44

A-Dếc

Plei Rắc

Kon tum

T20-Gialai

Tôn giáo

45

A-Cử

Plei Rắc

Kon tum

T20-Gialai

Tôn giáo

46

A- Bơ

Plei Rắc

Kon tum

T20-Gialai

Tôn giáo

47

A-B-Long

Plei Rắc

Kon tum

T20-Gialai

Tôn giáo

48

A-Sử

Plei Rắc

Kon tum

T20-Gialai

Tôn giáo

49

A- B-Jo

Plei Rắc

Kon tum

T20-Gialai

Tôn giáo

50

A- Nhưôi

Plei Rắc

Kon tum

T20-Gialai

Tôn giáo

51

Y-Duyêt

Plei Rắc

Kon tum

TG- Kon tum

Tôn giáo

52

A-Gah

Plei Rắc

Kon tum

TG-Kontum

Tôn giáo

53

Y-Phaoh

Plei Răc

Kon tum

TG-Kon tum

Tôn giáo

54

Y-Thech

Plei Rắc

Kon tum

TG-Kontum

Tôn giáo

55

A-Thăn

Plei Rắc

Kon tum

TG-Kontum

Tôn giáo

 

7. Chế độ lao tù vô nhân đạo

Để che mắt dư luận, nhà nước đă ban hành một “Pháp lệnh thi hành án phạt tù““ nhưng trong thực tế th́ nhân phẩm con người bị chà đap, tính mạng tù nhân không được bảo đảm qua các h́nh thức ép cung, đánh đập tra trấn dă man cho đến chết.

7.1. Giam giữ vô thời hạn

Nhà nước CHXHCNVN là một chế độ độc tài bất chấp công luận của toàn thế giới nên đă giam cầm những tù  nhân chính trị  trên 33 năm. Hiện tại, nhà nước CHXHCNVN c̣n giam giữ 2 tù nhân chính trị :

1 - Ông Nguyễn Hữu Cầu  tại trại giam Z30A Xuân Lộc. Ông Nguyễn Hữu Cầu nguyên là một Đại Úy quân lực VNCH bị bắt năm 1976 v́  “tội Phản động“, tính đến nay đă 33 năm tù ngục.

2 - Trung úy Trương văn Sương bị bắt năm 1984, hiện vẫn c̣n bị giam giữ tại trại tù Thanh Hoá đến nay đă trên 25 năm tù.

Nhờ sự can thiệp của các tổ chức nhân quyền quốc tế, năm 2007, nhà nước CHXHCNVN phóng thích Thiếu úy Biệt Động quân Vơ Lâm Tể tức nhà văn Hướng Dương Vũ Đ́nh Thụy sau 31 năm 8 tháng 11 ngày tù. Nhà văn Hướng Dương Vũ Đ́nh Thụy đă được giải thưởng quốc tế Vassyl Stus về quyền tự do viết văn. Nhà văn Hướng Dương Vũ Đ́nh Thụy, tân khôi nguyên Giải thưởng Vasyl Stus Quyền Tự do viết văn và tân hội viên danh dự trung tâm văn bút Hoa Kỳ/ Pen New England hiện đang điều trị nhiều chứng bệnh, hậu qủa của thời gian tù đầy trong ngục tù cộng sản.

7.2 HÀNH HẠ ĐÁNH ĐẬP TÙ NHÂN

Điều 7 (CUQTDSCT): Không ai có thể bị tra tấn, hoặc phải chịu những h́nh phạt hay đối xử tàn ác, vô nhân đạo, làm hạ thấp phẩm giá con người.

A. THƯỢNG TỌA THÍCH THIỆN MINH

Thượng tọa Thích Thiện Minh, người được Đặc Phái viên Liên Hiệp Quốc vinh danh là tù nhân lương tâm của Việt Nam với 2 bản án chung thân đă bị chính quyền CS giam giữ hành hạ suốt 26 năm. Trong thời gian nằm xà lim, TT bị cai tù đánh bằng roi điện và dùng báng súng, mũi súng đánh hộc máu. Hiện TT phải lên Sài G̣n nhập viện điều trị vết thương phổi tái phát, hậu qủa của việc tra tấn đánh đập trong thời gian tù đày.

B. ÔNG PHẠM TRẦN ANH

Sau 1975, ông Phạm Trần Anh cùng một số người Việt Nam yêu nước thành lập Mặt trận Người Việt Tự do đứng lên đấu tranh cho Nhân quyền, tự do và dân chủ chống lại chế độ độc tài áp bức nhân dân. Tháng 7 năm 1977, ông và 9 chiến hữu bị CSVN bắt và cái gọi là toà án Nhân dân tỉnh Lâm Đồng kết án Chung thân với tội danh cáo buộc “Âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng“‘.

Từ 3-7-1977 đến 3-8-1978 bị c̣ng chân tay tại trung tâm tạm giam Đà Lạt tỉnh Lâm Đồng. Trong thời gian này, ông bị bỏ đói, đánh đập, tra tấn bằng đèn cực mạnh chiếu thẳng ngày đêm vào mắt để ép cung và đem ra pháp trường xử bắn để  khủng bố tinh thần.

Từ 3-8-1978 dến tháng 10-1984, ông bị đem vào xà lim biệt giam Đại B́nh cùm 2 chân bằng loại cùm gỗ, nằm ngửa chờ chờ, 2 chân banh ra ...cả ngày lẫn đêm. Trong hơn 6 năm trong xà lim kỷ luật với khâủ phần lương thực 7 kg cho cả tháng, mỗi tháng được tắm rửa một lần ...

Từ tháng 10-1984 đến 3-8-1997 bị cùm gần 2 năm v́ tội chống đối ban Giám thị trại tù. Tại trại tù Xuân Phước ông bị đánh gẫy răng và nhốt trong xà lim 13 tháng v́ chông đối lao động.

Ông đă bị cùm chân c̣ng tay trong xà lim biệt giam gần 9 năm, do sự can thiệp của tổ chức Ân xá Quốc tế, Thủ Tướng Thụy Điển cùng với các tổ chức nhân quyền, các dân biểu nghị sĩ nhiều nước can thiệp nên chính quyền CHXHCNVN phải trả tự do cho ông ngày 3-8-1997 sau 20 năm 1 tháng tù.

Sau khi ra tù, mặc dù được gia đ́nh bảo lănh sang Hoa Kỳ định cư nhưng bị chính quyền CS giữ hơn 9 năm, đến ngày 2-9-2006 ông mới được sang định cư tại Hoa Kỳ. Hậu quả của thời gian tra tấn, hành hạ khiến đôi mắt bị mờ phải thay 2 thủy tinh thể nhân tạo và thay 2 hàm răng gỉa. Ông hiện là Phó Hội Trưởng Hải ngoại của Hội Ái hữu Tù nhân Chính trị và Tôn giáo Việt Nam.

8.3. TRA TẤN ĐÁNH ĐẬP TÙ NHÂN CHO ĐẾN CHẾT

A. Ông Vũ Tiến Đạt là sĩ quan Trung uư nhảy dù sau vào học Cao học Hành chánh trường QGHC. Sau 1975, bị bắt đi cải tạo tại trại tù Trảng Lớn. Ông cùng trốn trại với ông Nguyễn Tấn Lộc, kỹ sư Nông Lâm súc trốn trại không thoát, hai anh phải ra tŕnh diện nhưng bị công an bắn chết tại chỗ.

B. Hoàng Lộc, sinh viên trường Đại học quân y năm thứ 6 bị bắt đi cải tạo ở trại Kà Tum. Trên đường lao động về nói chuyện với  thân nhân đi thăm tù, cán bộ không cho nhưng anh vẫn nói chuyện, tên cán bộ rút súng bắn anh chết liền tại chỗ.

C. Giáo sư Nguyễn Vũ Khương bị kết án tử h́nh trong vụ án nhà thờ Vinh của Nguyễn Công Nghị. Trên đường đem đi xử bắn, ông bị một tên công an dùng báng súng đánh vào đầu, ông ngă xuống nằm bất động dưới giao thông hào. Công an thấy thân thể ông bất động, máu me đầy ḿnh tưởng ông đă chết nên bỏ đi. Hai ngày sau, ông tỉnh dậy được được đưa vào bệnh viện thóat chết nhưng bị chấn thương sọ năo bán thân bất toại, đi đứng không được. Sau ông đưa đi định cư tại Hoa Kỳ.

D. Linh mục nguyễn Công Minh trong vụ án Vinh Sơn bị xử chung thân rồi đưa ra trại tù Xuân Phước. Gia đ́nh lên thăm nuôi gửi “Ḿnh Thánh chúa“  vào cất giấu trong trại bị bắt đem nhốt xà lim. Linh mục Minh bị đánh giập lá lách, hộc máu mồm và chết trong xà lim trong khi đang bị cùm chân, c̣ng tay.

Hai trường hợp vi phạm cụ thể gần đây nhất như sau:

E. Tra tấn ông Bá văn Bản cho đến chết

Ông Bá Văn Bản, 25 tuổi, một thanh niên người Chăm hiền lành ở thôn Văn Lâm, xă Phước Nam, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận đ ̣i l ại quy ền s ở h ữu đ ất đai.     Ngày 02/06/2008, công an đến bắt ông Bản, đưa vô trại giam của Huyện Ninh Phước. Hơn hai tháng trong tù, ông Bản bị tra tấn một cách dă man và vô nhân đạo cho đến trọng thương hấp hối và chờ chết. Trước t́nh thế này, công an mới chịu giao ông Bá Văn Bản cho gia đ́nh đưa ông ta đến bệnh viện tỉnh Ninh Thuận để cấp cứu. Một ngày sau, ông Bá Văn Bản từ trần vào lúc 10g đêm ngày 27-08-2008 v́ mang thương tích quá nặng.  

F. Đánh đập tra tấn ông Y-Ben Hd ơk cho đến chết

Một thí dụ dẫn chứng cụ thể gần đây nhất: trường hợp của Y- Ben Hdơk, sinh năm 1979. Nguyên quán: Buôn Brê, xă Hoà Phú, Thành Phố Buôn Ma Thuột, Tỉnh Đăk Lăk. Trú quán lập gia đ́nh: Buôn Đung, xă Cư Êbur, Thành Phố Buôn Ma Thuột, Tỉnh Đăk Lăk. Anh ta bị Cộng Sản bắt cóc vào ngày 26/04/2008, sau đó bị Công An điều tra và tra tấn rất nặng nề và dă man. Sau khi Công An thấy sức khoẻ của anh bị nguy hiểm, th́ chính Công An đă đưa anh ta đi bệnh viện, để rồi anh ta đă chết vào ngày 01/05/2008 tại bệnh viện tỉnh Đăk Lăk. Sau đó Công An gọi người nhà đến để nhận xác chết tại bệnh viện và Công An đưa ra điều kiện không được phép chụp h́nh xác chết và Công An kiểm soát từ ngày chết cho đến ngày chôn cất. Đây là một dẫn chứng khá rơ ràng, v́ thế chúng tôi phải bỏ nhà ra đi cần sự giúp đỡ của Liên Hiệp Quốc. Nhưng…” Theo báo cáo về nhân quyền năm 2008 của bộ ngoại Hoa Kỳ th́: “Ngày 1 tháng 5, Y Ben Hdok, một người Thượng ở Đắc Lắc đă chết trong lúc bị giam giữ tại ty Cảnh sát tỉnh Buôn Mê Thuột. Cảnh sát bắt giam ông ta vào ngày 28 tháng 4 năm 2008, điều tra cáo buộc ông ta xúi giục biểu t́nh. Cán bộ chính quyền nói rằng ông ta tự treo cổ trong lúc tạm nghỉ trong lúc thẩm vấn nhưng gia đ́nh ông ta cho biết, thi thể Y Ben Hdok đầy những vết bầm tím. Chính quyền không điều tra về lư do của cái chết và gia đ́nh đề nghị cho giảo nghiệm tử thi nhưng bị chính quyền từ chối.

Một người Thượng khác cũng bị chết ngay sau khi được thả về với gia đ́nh. Nguyên nhân của cái chết không thể xác định được.

Đến nay văn không có bất cứ tin tức nào về cái chết năm 2006 của Y Ngo Adrong”.

 7.4. XỬ TỬ HÀNG TRĂM  TÙ NHÂN CHÍNH TRỊ.

Điều 6 Công Ước quốc tế về các quyền Dân sự và chính tri qui định:

1. Mọi người đều có quyền sống. Đây là một quyền bẩm sinh được luật pháp bảo vệ. Không ai có thể bị tước đoạt quyền sống một cách độc đoán.

2. Trong các quốc gia chưa băi bỏ h́nh phạt tử h́nh, toà án chỉ được tuyên án tử h́nh đối với những tội h́nh sự nghiêm trong nhất chiếu theo luật pháp áp dụng trong thời gian phạm pháp và không trái với những điều khoản của Công Ước này và của Công Ước Ngăn Ngừa và Trừng Phạt Tội Diệt Chủng. H́nh phạt tử h́nh chỉ có thể được thi hành chiếu theo một bản án chung thẩm của một ṭa án có thẩm quyền.

3. Điều luật này không cho phép các quốc gia hội viên kư kết Công Ước này được giải trừ các nghiă vụ ghi trong Công Ước Ngăn Ngừa và Trừng Phạt Tội Diệt Chủng trong trường hợp sự hành quyết hay sát nhân cấu thành tội diệt chủng.

4. Các bị cáo bị tuyên án tử h́nh có quyền xin ân xá hay ân giảm h́nh phạt. Lệnh đại xá, ân xá hay ân giảm h́nh phạt có thể được ban hành trong mọi trường hợp.

Tra tấn có hệ thống trong các trại tù tại Việt Nam. Nguốn: montagnard-foundation.org

5. Điều luật này không thể được viện dẫn để tŕ hoăn hay ngăn cản việc băi bỏ h́nh phạt tử h́nh tại các quốc gia hội viên kư kết Công Ước này.

Tù nhân chính trị là những người bất đồng chính kiến tranh đấu cho nhân quyền, đ̣i tự do dân chủ, đ̣i quyền tự do tôn giáo ... được nhân loại văn minh tôn trọng. Thế nhưng dưới chế độ CS, họ bị qui chụp là tội h́nh sự và chính quyền CS đă ngang nhiên xử tử hàng trăm tù nhân chính trị. Chính quyền CSVN đă xử bắn linh mục Nguyễn Công Nghị và linh mục Trần Ngọc Hiệu. Đặc biệt, chính quyền CSVN đă xử bắn chị Trần thị Lan trong khi chị đang có thai 4 tháng vi phạm trầm trọng điều 6 Công Ước Quốc tế về quyền Dân sự và Chính trị: Án tử h́nh không được tuyên đối với các bị cáo chưa đủ 18 tuổi khi phạm pháp, và cũng không được thi hành đối với các phụ nữ mang thai.

Trong số hàng trăm tù nhân chính trị bị chính quyền CSVN xử tử có ông Trần văn Bá, người vừa được tổ chức Victims of Communism Memorial Foundation (VOCMF), trao tặng huy chương Tự Do Truman-Reagan (Truman-Reagan Medal of Freedom Award) cho những người đă từng nêu những tấm gương kiên cường chống lại chủ nghĩa cộng sản và bạo quyền trên thế giới để dành lại tự do sẽ được tổ chức vào ngày 15 tháng 11 năm 2007 tại Toà Đại Sứ Hung Gia Lợi. Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị VOCMF Tiến Sĩ Lee Edwards, đă vinh danh  Trần Văn Bá là “Chiến Sĩ cho Tự Do, Chiến Sĩ chống Cộng Sản”, và đă bày tỏ sự hănh diện của Hội Đồng Quản Trị chọn lựa Trần Văn Bá cho huy chương Tự Do cao quư này.

“Ông Trần Văn Bá là thứ nam của cố Dân Biểu Trần Văn Văn, và từng là Chủ Tịch của Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam tại Paris trong thập niên 1970. Năm 1972, Trần Văn Bá là người đă dẫn đầu phái đoàn sinh viên Âu Châu trở về Việt Nam để thăm viếng và uỷ lạo chiến sĩ VNCH cùng tạo sự thông cảm giữa những người sinh viên du học và quân cán chính QLVNCH trong chương tŕnh Nối Ṿng Tay Lớn để chuẩn bị cho ngày trở về phục vụ đất nước.

Trong những ngày tháng đầu năm 1975, ông và các bạn trong Tổng Hội Sinh viên  đă tổ chức những cuộc biểu t́nh tuần hành qua đường phố Thủ Đô Ánh Sáng để kêu gọi hỗ trợ cuộc chiến đấu của dân quân Miền Nam Việt Nam chống lại cuộc xâm lăng của cộng sản. Tết Bính Th́n 1976, ông và THSV Paris đă là những người đầu tiên dương cao ngọn Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ trong chương tŕnh Xuân chủ đề Ta C̣n Sống Đây để nói lên ư chí bất khuất, quyết không chấp nhận cộng sản của người Việt tị nạn. Ông và những anh chị em sinh viên của THSV cũng đă có công lớn ngăn chận buổi nói chuyện của Phạm Văn Đồng tại Paris vào năm 1978.

 Năm 1980, sau nhiều năm chuẩn bị, Ông Trần Văn Bá đă âm thầm t́m đường trở về trong nước để cùng toàn dân đứng lên tranh đấu giành lại tự do. Năm 1984, sau nhiều lần xâm nhập Việt Nam, ông Trần Văn Bá cùng một số phục quốc quân đă bị bắt tại làng Minh Hải, Cà Mau. Tháng 12 năm 1984, trong một phiên ṭa nhân dân trá h́nh do việt cộng dàn dựng, anh đă hiên ngang từ chối kư tên nhận tội để được ân xá và đă bị kết án tử h́nh. Ngày 8 tháng Giêng năm 1985, Trần Văn Bá ở tuổi 40, đă bị Việt Cộng hành quyết“.

8 Tổng kết

Vi phạm nhân quyền tại Việt Nam không chỉ là việc vi phạm đơn lẻ mà là một sự vi phạm qui mô, có hệ thống được đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam xây dựng từ hơn 60 năm qua với mọi phương tiện: công an, quân đội, báo chí, các mạng thông tin, luật pháp vv...

Quốc Hội là nơi qui tụ những đại diện của người dân trong một quốc gia. Những người đại diện nhân dân trong Quốc Hội đưa ra luật pháp phù hợp với nguyện vọng của người dân nhằm phục vụ và bảo vệ quyền lợi của người dân. Luật bầu cử của nước CHXHCNVN qui định Mặt trận Tổ Quốc, một tổ chức chính trị của đảng cộng sản Việt Nam có trách nhiệm:

-         giới thiệu ứng cử viên ra tranh cử đại biểu quốc hội,

-         tổ chức và điều hành cuộc bầu cử quốc hội.

Sự kiện này như đă nêu lên trong phần thứ 3, không những chỉ vi phạm Công Ước Quốc Tế Những Quyền Dân Sự và Chính Trị mà c̣n vi phạm Hiến Pháp nước CHXHCN Việt Nam. Nghiă là Quốc Hội cũng như chính quyền CHXHCN Việt Nam vi hiến và phản nhân quyền.

Mặt khác Hiến Pháp nước CHXHCN Việt Nam có nhiều điều mâu thuẫn lẫn nhau và vi phạm nhiều điều khoản trong Công Ước Quốc Tế về Những Quyền Dân Sự và Chính Trị, Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và Hiến Chương Liên Hiệp Quốc.

Không chỉ riêng về mặt nhân quyền, theo báo cáo và tường tŕnh của nhiều toà đại sứ ngoại quốc tại Hà Nội, các công ty, doanh nhân đă hoặc có ư định đầu tư tại Việt Nam trong nhiều năm qua là luật pháp CS Việt Nam có vô số điều luật chồng chéo và mâu thuẫn lẫn nhau. Việc thi hành luật không được thống nhất, mỗi địa phương thi hành mỗi khác và nhiều nơi c̣n thi hành hoàn toàn trái ngược với ư nghĩa điều luật được ban hành. Điều này đă được minh xác bởi kết quả của một cuộc kiểm soát kéo dài 5 năm (2003-2008) được thực hiện bởi Bộ Tư pháp “khoảng 12% số văn bản được kiểm tra do các cơ quan chức năng ban hành đă bị phát hiện có dấu hiệu trái luật”, tỷ lệ này được xác định sau cuộc kiểm tra tại các Bộ và cơ quan trung ương. Con số những văn bản vi phạm luật tại các tỉnh do các địa phương tự kiểm tra phát hiện khá lớn “tại tỉnh Cao Bằng có một nửa trong số 124 văn bản kiểm tra có sai phạm. Tỷ lệ này ở Nghệ An là 660 trong 1.000 văn bản”. Nếu những văn bản tại cấp trung ương và cấp tỉnh do các luật gia biên soạn mà vi phạm luật pháp với tỷ lệ cao như vậy th́ thử hỏi tỷ lệ đó ở cấp huyện, quận, xă, phường như thế nào? Công việc này chỉ nhằm kiểm tra những văn bản của các cơ quan hành pháp chứ chưa phải công việc giải quyết tận gốc những nan giải trong xă hội Việt Nam hiện nay do luật pháp gây ra. Những nan giải chồng chéo này chỉ có thể giải quyết bởi một Quốc Gia Pháp trị và biện pháp duy nhất để có thể xây dựng một Quốc Gia Pháp trị tại Việt Nam là:

1.      Giải tán Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam. Sau khi giải tán Quốc Hội luật pháp quốc tế cũng như các Công Ước Quốc Tế phải được tôn trọng tại Việt Nam nhằm bảo đảm an ninh và các quyền Tự Do căn bản.

2.      Bầu cử một Quốc Hội Lập Hiến Việt Nam qua một cuộc bầu cử tự do dưới sự tổ chức và điều hành của Liên Hiệp Quốc.

Qua đó, một bộ luật Việt Nam được h́nh thành bởi mọi thành phần trong xă hội với mục đích phục vụ con người, bảo toàn nền hoà b́nh giữa các sắc dân trong nước Việt Nam nói riêng, giữa các dân tộc trên thế giới với dân tộc Việt nói chung và nhân quyền mới thực sự được tôn trọng tại Việt Nam. 

9. Phụ đính

9.1. DANH SÁCH TÙ CHÍNH TRỊ VÀ TÔN GIÁO ĐANG C̉N TRONG TRẠI GIAM

1. Lê Văn Tính, Đảng Nhân Dân Hành Động , Cố Vấn Ban Trị Sự GHPGHH, bị bắt 25/.01/1995 án 20 năm, trại giam Xuân Lộc, Tỉnh Đồng Nai

2. Nguyễn Tuấn Nam, Đảng Nhân Dân Hành Động, án 19 năm, trại giam Xuân Lộc, Tỉnh Đồng Nai

3. Nguyễn Văn Trại, Đảng Nhân Dân Hành Động, án 16 năm, trại giam Xuân Lộc, Tỉnh Đồng Nai

4. Trần Công Minh, Đảng Nhân Dân Hành Động, án 13 năm, trại giam Xuân Lộc, Tỉnh Đồng Nai

5. Lê Đông Phương, Đảng Nhân Dân Hành Động, án 12 năm, trại giam Xuân Lộc, Đồng Nai

6. Bùi Đăng Thủy, Đảng Nhân Dân Hành Động, án18 năm, trại giamXuân Lộc, Đồng Nai.

7. Nguyễn Anh Hảo, Đảng Nhân Hành Động, án 13 năm, trại giam Xuân Lộc, Đồng Nai.

8. Nguyễn Hữu Phu, Đảng Nhân Hành Động, án 10 năm, trại giam Xuân Lộc, Đồng Nai

9. Nguyễn Văn Hậu, Đảng Nhân Dan Hành Động, án 8 năm, trại giam Xuân Lộc, Đồng Nai

10.Vũ thị Ngọc Ẩn, Đảng Nhân Dân Hành Động, án 8 năm, trại Z30 D, Hàm Tân

11.Trần Thị Lệ Hằng, bị bắt ngày 12/04/2007, Sáng lập viên Hiệp Hội Đoàn Kết Công Nông trại B5 Đồng Nai

12Luật Sư Trần Quốc Hiền, Phát ngôn nhân Hiệp Hội Đoàn Kết Công Nông, bị bắt ngày 12/1/2007, án 5 năm, trại giam Bố Lá, tỉnh B́nh Dương

13.Đoàn Văn Diên, bị bắt ngày 12/4/2007 Hiệp Hội Đoàn Kết Công Nông, trại B5 Đồng Nai

14 Đoàn Hữu Chương, bị bắt ngày 12/04/2007, được thả ngày 13/05/2008  Hiệp Hội Đoàn Kết Công Nông, trại B5 Đồng Nai

15.Trần Thị Thùy Trang, Tạm giam chưa xét xử

16Vũ Ḥang Hải,Tạm giam chưa xét xử

17.Nguyễn Ngọc Quang, Tạm giam chưa xét xử

18.Phạm Bá Hải, Tạm giam chưa xét xử

19.Bùi Tấn Nhă, Thủ Bổn Ban Trị Sự TW, bị bắt ngày 13/07/1997, án Chung Thân

20.Tu Sĩ Nguyễn Văn Điền, Phó Hội Trưởng TW, bị bắt ngày 05/08/2005 án 7 năm, trại giam Sài G̣n

21.Vơ Văn Bữu, trưởng Đoàn Thanh Niên GHPGHH, bị bắt ngày 05/08/2005 án 6 năm, trại giam Xuân Lộc

22.Mai thị Dung. Trưởng Đoàn Phụ Nữ huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, bị bắt 05/08/2005 án 5 năm, trại giam Vĩnh Long

23. Vơ Văn Thanh Liêm, trụ tŕ chùa Quang Minh Tự An Giang, bị bắt 05/08/2005 án 7 năm, trại giam Xuân Lộc

24.Nguyễn Thanh Phong, Đoàn viên Thanh Niên PGHH, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang,bị bắt 05/08/2005 án 6 năm, trại giam Vĩnh Long

25.Nguyễn Thị Hà, Đoàn viên Phụ Nữ PGHH, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, bị bắt 05/08/2007 án 5 năm,trại giam Vĩnh Long

26.Tô Văn Mảnh, Cư sĩ PGHH, bị bắt 05/08/2007, án 6 năm, trại giam Xuân Lộc

27.Nguyễn Thành Long, Cư sĩ PGHH, bị bắt 05/08/2007, án 5 năm, trại giam Xuân Lộc

28. Tu Sĩ Nguyễn Văn Thùy, Trưởng Ban Thanh Niên PGHH tỉnh Vĩnh Long, bị bắt 22/04/2006, án 5 năm

29. Nguyễn Văn Thơ, Hội Trưởng BTS/PGHH tỉnh Đồng Tháp, bị bắt 02/10/2006, án 6 năm, trại giam Đồng Tháp

30.Dương Thị Tṛn, Cư sĩ PGHH, bị bắt 02/10/2006, án 4 năm, trại giam Cao Lănh

31.Lê văn Sóc, phó Hội Trưởng BTS/PGHH tỉnh Vĩnh Long, bị bắt 04/11/2006, án 6 năm

32.Nguyễn Văn Thọ, án 4 năm

33.Nguyễn Thị Thanh, Tuy Ḥa, Phú Yên, bị bắt 05-08-2006, trại giam Vĩnh Long

34- Kỹ sư Phạm Văn Trội, Hà Tây, tạm giam chưa xét xử

35- Dân oan Nguyễn Văn Túc, Thái B́nh, tạm giam chưa xét xử

36. Linh Mục Nguyễn Văn Lư, án 8 năm( Người sáng lập 8406), trại tù Ba Sao, Nam Hà

37. Nguyễn Phong, án 6 năm ( Đảng Thăng Tiến), trại giam tỉnh Thanh Hóa

38. Nguyễn B́nh Thành, án 5 năm( Đảng Thăng Tiến), trại giam Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai

39. Luật Sư Nguyễn Thị Công Nhân, án 4 năm (thành viên 8406, phát ngôn nhân đảng Thăng Tiến), trại giam tỉnh Thanh Hóa

40.Luật Sư Nguyễn Văn Đài án 5 năm( thành viên 8406), trại tù Ba Sao, Nam Hà

41. Bác Sĩ Lê Nguyên Sang, án 5 năm,(Chủ Tịch Đảng Dân chủ Nhân Dân)

42.Luật Sư Nguyễn Bắc Truyền, án 4 năm, (Đảng Dân chủ Nhân dân)

43.Huỳnh Nguyên Đạo, án 3 năm, (Đảng Dân chủ Nhân dân)

44.Ḥang Thị Anh Đào (Đảng Thăng Tiến) án treo 2 năm

45.Lưu Văn Si, bị truy nă ( Hiệp hội Đoàn kết Công Nông Việt Nam)

46.Trương Quốc Huy, sinh năm 22/09/1980, bị bắt 19/610/2005

47.Ngô Văn Ninh 87 tuổi, Hội trưởng GHPG Bữu Sơn Kỳ Hương, trại giam Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai

48.Nguyễn Sĩ Bằng, án Chung Thân Chiến dịch Hoa Phượng Đỏ của Hoàng Việt Cương ,trại giam Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai

49.Phạm Xuân Thân, án Chung Thân hiến dịch Hoa Phượng Đỏ của Hoàng Việt Cương., trại giam Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai

50.Trượng Văn Duy, án Chung Thân, Chiến dịch Hoa Phượng Đỏ của Hoàng Việt Cương, trại giam Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai

51. Lê Kim Hùng, Việt Nam Tự Do, trại giam Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai

52.Hồ Long Đức, Việt Nam Tự Do, án 20 năm, trại giam Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai

53. Nguyễn Thanh Vân, Việt Nam Tự do, trại giam Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai

54. Nguyễn Văn Phương, Việt Nam Tự do, trại giam Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai

55.Nguyễn Ngọc Phương, Việt Nam Tự do, trại giam Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai

56.Nguyễn Hoàng Giang, Việt Nam Tự do, trại giam Xuân Lộc tỉnh , Đồng Nai

57.Nguyễn Văn Hưỡng, Việt Nam Tự do, trại giam Xuân Lộc tỉnh, Đồng Nai

58.Sơn Nguyễn Thanh Điền, Việt Nam Tự do, trại giam Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai

59.Nguyễn Minh Mẫn , Việt Nam Tự Do, trại giam Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai

60.Nguyễn Văn Minh, Việt Nam Tự Do, trại giam Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai

61.Huỳnh Bữu Châu, Việt Nam Tự Do, trại giam Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai

62.Huỳnh Anh Tú, Việt Nam Tự Do, trại giam Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai

63.Huỳnh Anh Trí, Việt Nam Tự Do, trại giam Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai

64.Nguyễn Văn Thân, Việt Nam Tự Do, trại giam Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai

65.Trần Văn Đức, Việt Nam Tự Do, trại giam Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai

66.Vơ Sĩ Cường, Việt Nam Tự Do, trại giam Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai

67.Ngô Thanh Sơn, Việt Nam Tự Do, trại giam Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai

68.Trần Văn Thái, Việt Nam Tự Do, trại giam Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai

69.Đổ Thanh Vân( tự Nhàn), Việt Nam Tự Do, trại giam Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai

70.Đinh Quang Hải , Việt Nam Tự Do, trại giam Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai

71.Lâm Quang Hải, Việt Nam Tự Do, trại giam Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai

72.Nguyễn Anh Hào, trại giam Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai "

73.Tô Thanh Hồng, Việt Nam Tự Do, trại giam Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai "

74.Mai Xuân Khánh, trại giam Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai

75.Trần Văn Thiêng , trại giam Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai

76.Phan Quốc Dũng ,trại giam Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai

77.Nguyễn Văn Hoa, trại giam Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai

78.Nguyễn Văn Chung, trại giam Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai

79.Nguyễn Sinh Nhặt, trại giam Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai

80.Bùi Rê, trại giam Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai

81. Nguyễn Hữu Cầu, trại giam Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai

82.Lê Thị Hằng (Đảng Thăng Tiến) án 18 tháng treo

83.Nguyễn văn Ngọc Đồng Nai, Tạm giam chưa xét xử

84.Hồ Thị Bích Khương, bị bắt tại Huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ an

85.Hàng Tấn Phát, bị bắt ngày 20/10/2006 tại Nha Trang

86.Lê Trung Hiếu, Tạm giam chưa xét xử

87.Ngô Lướt Dân oan, phan thiết, tỉnh B́nh Thuận , bị bắt ngày 3/8/2007

88- Ông Phùng Quang Quyền, 1 năm 6 tháng.

89- Anh Lương Văn Sinh, 2 năm tù, tạm giam chưa xét xử

90- Chị Nguyễn Thị Tuyết, 1 năm 6 tháng, tạm giam chưa xét xử

91- Dân oan Nguyễn Thị Cẩm Hồng, Long An, tạm giam chưa xét xử

92- Thầy giáo Vũ Hùng, Hà Tây, tạm giam chưa xét xử

93- Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, Hải Pḥng, tạm giam chưa xét xử

94- Chiến sĩ Phạm Thanh Nghiên, Hải Pḥng, tạm giam chưa xét xử

95- Dân oan Nguyễn Kim Nhàn, Bắc Giang, tạm giam chưa xét xử

96- Sinh viên Ngô Quỳnh, Bắc Giang, tạm giam chưa xét xử

97- Nhà thơ Trần Đức Thạch, Nghệ An, tạm giam chưa xét xử

98- Dân oan Lê Thị Kim Thu, Đồng Nai, tạm giam chưa xét xử

99- Dân oan Nguyễn Văn Tính, Hải Pḥng, tạm giam chưa xét xử

9.2. DANH SÁCH TÙ NHÂN CHÍNH TRỊ BỊ CSVN XỬ TỬ H̀NH

Họ tên                      Tội danh                   Ngày bị xử tử      Nơi xử tử

1. Trương Ánh Loan   LL Kháng chiến Phục Quốc     5/1975 Khánh Hội SG

2. Trần Dư                             nt                        9/1975          Sài G̣n

3. Nguyễn văn Bảo         Phản Động                        7.1976        G̣ Công 

4. Nguyễn văn Huệ         Phản Động                    7/1976             nt

5. Trần thị Lan                       nt                             nt               nt

6. LM Trần Học Hiệu*   Kháng chiến Phục Quốc      11/1976       Biên Ḥa

7. Nguyễn văn Hoàng    Phục Quốc                         1976         Sài G̣n

8. Nguyễn Hữu Nghị      Nhà thờ Vinh Sơn              8/1977         Thủ Đức

9. Nguyễn Việt Hưng     Kháng chiến Phục Quốc     8/1077             nt

10. Lâm Văn Hùng                 nt                             nt                nt

11. Tạ Hồng Nhẫn           Mặt trận Quốc Gia               1977        Tuy Ḥa

12. Phạm văn Mẫn          Chống phá Cáchmạng         1977            Pleiku

13. Nguyễn văn Trâm      Mặt trận Quốc Gia            6/1978   Long Thành

14. Trần văn Xe            MT Dân Quân Phục Quốc 10/1978            nt

15. Huỳnh Trung Thâm   MT Quốc Gia VN                 1978         Đà Nẵng

16. Trần Ngọc Văn                    nt                         1978            nt

17. Trương văn Hai                   nt                         1978            nt

18. Đào Hồng Phước      Chống phá CM                    1978           PleiKu

19. Tạ Chí Long            Chống phá Cách mạng         1978            nt

20. Nguyễn văn Gấm     MT Giải Phóng Quốc Gia    5/1978         Bến Tre

21. Nguyễn văn Chu      MT Cứu nguy Dân tộc          1978        Lạc Lâm

22. Nguyễn văn Lạc                 nt                              nt      Tuyên Đức

23. Hồ Thanh Tịnh         Nhà ḍng Đồng Kông              nt       Lâm đồng

24. Phạm Thái Học        Lực lượng Phục Quốc              nt            nt

25. Nguyễn văn Dương    Liên Bang Đông Dương        7/79         G̣ Công

26. Nguyễn văn Vàng               nt                            nt               nt

27. Vơ văn Nhị               MT Quốc Gia                  7/1979          Sài G̣n

28. Lê văn Tài               MT  Phục Quốc               2/1979         Rạch Gía

29. Nguyễn Ngọc Nhẫn     MT Phục Quốc              2/1979          Bến Tre

30. Nguyễn văn Thiên               nt                           nt               nt

31. Nguyễn Thanh Từ               nt                           nt         Vĩnh Long

32. Khổng Trung Lộ          MTGiải phóng Quốc gia    7/1979         Sài G̣n

33. Nguyễn văn Đầy        MT Thống nhất Quốc gia  3/1979       Tây Ninh

34. Bùi Thế Xa                Liên minh Đông Á              1979        Sài G̣n

35. Lê Hồng Sơn                      nt                           nt                 nt

36. Bùi Đ́nh Luyện           Mặt Trận Quốc gia VN        nt           Tuy Ḥa

37. NguyễnĐức Năng                nt                           nt                nt

38. Nguyễn văn Năng               nt                           nt                nt

39. Nguyễn Hiền                      nt                           nt            Đà Nẵng

40. Nguyễn Khanh                     nt                             nt                 nt

41. Nguyễn Sĩ                            nt                            nt                 nt

42. Nguyễn văn Chánh                nt                           nt                 nt

43. Nguyễn văn Nhung               nt                            nt                 nt

44. Phan văn Xuân                     nt                            nt                 nt

45.  Nguyễn Ngọc Thanh     Chống phá Cách mạng      nt               Pleiku

46. Nguyễn Tín BĐ                    nt                             nt                 nt

47. Nguyễn văn Tư BD               nt                             nt                 nt

48. Phạm trường Yên BD            nt                             nt                 nt

49. Phạm Xương (B́nh Định)      nt                             nt                 nt

50. Vũ văn Khanh            Phục Quốc quân                 nt         Đại B́nh LĐ

51. Nguyễn văn Ba                     nt                          nt               nt

52. Nguyễn văn Tề        Trung đoàn Lê văn Duyệt    2/1980         Long An

53. Lê văn Bê                Mặt Trận Quốc Gia            12/1980          Mỹ Tho

54. Nguyễn Thành Trai               nt                         2/1980         Long An

55. Nguyễn văn Lụa                   nt                         4/1980    Long Xuyên

56. Mai Hắc Đế              Lực lượng Hắc Long              nt               Mỹ Tho

57. Nguyễn Lạc             Chống Cách mạng               1980              Pleiku

58. Nguyễn Nghiêm                   nt                              nt                 nt

59. Nguyễn Đ́nh Thanh             nt                              nt                 nt

60. Nguyễn văn Thanh              nt                              nt                 nt

61. Tôn Thất Nhẫn                    nt                              nt                 nt

62. Trương An Ḥa                   nt                              nt                  nt

63. Ha Đào                      Phục Quốc                         1980    Đại B́nh LĐ

64. Phạm văn Long                nt                                    nt             nt

65. Huỳnh Ngọc Long             nt                                    nt             nt

66. Nguyễn văn Nghiêm         nt                                    nt             nt

67. Mai văn Qúi                     nt                                    nt             nt*

68.  Đặng Lư Thông    Đại úy sinh ngữ quân đội     11/1980    Xuân Phước

69. Nguyễn Duy Đức        Trung úy BĐQ.                       nt              nt

70. Nguyễn ngọc Vũ       Trung úyTQLC.                        nt              nt

71. Nguyễn Lưu Úy        Trung úy KQ                            nt              nt

72. Nguyễn Hồng Quân  Bộ chiêu hồi.                           nt              nt

73. Nguyễn văn Minh     Trung úy TQLC                        nt              nt  

74. Hoàng Tùng            Mặt trận Quốc gia Việt Nam    5/1981    Vũng Tàu

75. Nguyễn Ngọc Sáng              nt                             5/1981    Vũng Tàu

76. Nguyễn công Minh    Mặt Trận Phục quốc VN            2/81     Hàm Tân

77. Lê Phú Quang          Mặt trận Quốc gia V́ệt Nam      5/81   Tiền Giang

78. Nguyễn văn Thanh   Liên minh Đông Á                    1981          nt

79. Vơ xuân Dương        Chống phá Cách mạng              nt           SàiG̣n

80. Nguyễn văn Viên   MT Quốc Gia Giai phóng VN          nt        Biên Ḥa

81. Hà Tùng Linh        Liên Tôn (MTQGGPVN)                 nt        Biên Ḥa

82. Vũ Trọng Kim                       nt                               nt          Bảo Lộc

83. Trần Thiện Thanh       Phục Quốc                             nt      Tuyên Đức

84. Nguyễn văn Thanh       Liên Tôn                              nt       Đức Trọng

85. Ngàn Huy Vũ               Phục Quốc                           nt      Tùng Nghĩa

86. Lê văn Qú                        nt                                 nt          Đại B́nh

87. Cao Hoài Khương          Cao Đài Khâm Châu          1982         Bến Tre

88. Nguyễn văn Bền           Liên Tôn (MTQGGPVN)    4/1982         Bến Tre

89. Phan văn Tân               Liên Bang Đông Dương       nt             SàiG̣n

90. Vơ Xuân Dương                      nt                           nt                nt

91. Nguyễn văn Hổ                      nt                           nt                nt

92. Hứa văn Đông              LB Đông Dương              1982          Minh Hải

93. Dương Huỳnh Hoa        Mặt Trận Phục Quốc        1982       Tiền Giang

94. Ma Tấn Tài                  Phục Quốc                           1982        Mỹ Tho

95. Hoàng văn Ngai          Mặt Trận Liên Tôn                 1982        Mỹ Tho

96. Nguyễn văn Cuả         MT Dân quân Phục Quốc        1983     Đồng Nai

97. Lê Quang Ba               MT Thống Nhất Quốc Gia      1984          nt

98. Lê Quang Ba               Liên minh Phục Quốc            1984      Đà Nẵng

99. Đinh Công Kính                          nt                        1985       Bến Tre

100. Nguyễn văn Nhỏ       MT Dân quân Phục Quốc       1985      Đồng Nai

1 01. Ơn văn Thành                         nt                        1985     Đồng Nai

102. Phạm văn Vân                         nt                        1985          nt

103. Lê văn Yên                Mặt Trận Quốc Gia              1985        Bến Tre

104. Ngô văn Hoàng        Liên Bang Đông Dương         1985         Sài G̣n

105. Kiều Đ́nh Thanh      Liên Minh Phục Quốc             1985       Đà Nẵng

106. Nguyễn văn Mười     MT Thống Nhất Quốc Gia       1985       Bến Tre

107. Trần văn Hiếu                         nt                          nt               nt

108. Phùng văn Tài         Mặt Trận Việt Nam Tự Do        nt          Hàm Tân

109. Hồ Thái Bạch    MT Thống Nhất Giải Phóng VN      1985        Thủ Đức

110. Lê Quốc Quân                        nt                          nt               nt

111. Trần văn Bá                           nt                   8/1/1985           nt

112. Trịnh Hoàn       MT Nhân Dân Giải Phóng VN        1986      Sóc Trăng

113. LS Nguyễn văn Cảnh    Nhân bản Tiến bộ            1987         Sài G̣n

114. Đoàn Vang              Mặt Trận VN Phục Quốc          nt         Đồng Nai

115. Trần Cao Hùng         Mặt trận Nhân Dân                nt         Đồng Nai

106. Trương văn Ḥa       Liên Minh Đông Á                1991         Tuy Ḥa

107. Trương Xuân Ḥa   Âm mưu lật đổ Chính quyền  1991             nt

108.  Lê Thiếu Mai            MT Quốc Gia Giải Phóng           nt        Tuy Ḥa

109. Bùi Thanh Long                     nt                              nt         Sài G̣n

110. Nguyễn Viết Hùng     Việt Hùng Phục Quốc               nt         Sài G̣n

111. Đặng văn Thân                      nt                             nt             nt

112. Nguyễn Đ́nh San                   nt                              nt            nt

113. Nguyễn văn Bảy                    nt                              nt         Sài G̣n

114. Nguyễn văn Trung                 nt                              nt            nt

115. Phạm Công Hiên                    nt                              nt            nt

116. Trần Ngọc Hiệu Linh mục   Mặt Trận Phục Quốc                  Biên Ḥa

117. Vơ Phê.                   Mặt trận Cứu nguy Dân tộc     1979    Qui Nhơn

118. Thiệu khắc Phương               nt                               nt            nt

119. Nguyễn Tấn Phát                  nt                               nt            nt

120. Phan văn Vinh                      nt                               nt            nt

121. Nguyễn văn Linh                  nt                               nt            nt

122.  Nguyễn Tấn Phát                 nt                            1979  B́nh Định

123. Nguyễn Quốc Hùng               nt                              nt            nt

124. Lâm Anh Hải                        nt                              nt            nt

125. Vơ Văn Mưu                         nt                               nt           nt

126. Nguyễn Văn Giang               nt                               nt           nt

127. Huỳnh Long Sơn                  nt                               nt           nt

128. Nguyễn văn Có                    nt                               nt           nt

129. Lê Văn Thuận                      nt                               nt           nt

130. Nguyễn Thành Khuyên         nt                               nt           nt

9.3. Nhân Văn Giai Phẩm

Giai Phẩm Mùa Xuân là một bán nguyệt san xuất bản tại Hà nội ,phát hành hồi cuối tháng hai năm 1956; Tính theo thời gian, th́ tuổi thọ của nguyệt san Giai Phẩm chưa đầy một năm. Tính từ số 1 ra ngày 15 tháng 9 năm 1956 và số sáu chưa in xong th́ báo bị đóng cửa ngày 15 tháng chạp cùng năm Nói chính xác là chỉ có hơn 10 tháng, kể từ lúc xuất hiện Giai Phẩm Mùa Xuân cho đến lúc báo Nhân Văn bị đóng cửa. Tính theo số ấn phẩm, th́ chỉ có 10, gồm 5 Giai Phẩm và 5 số báo Nhân Văn.

   

Nhà thơ Hoàng Cầm. Hanoi           Nhạc sĩ Văn Cao                              Nhà thơ Hữu Loan

Hành Tŕnh Nhân Văn Giai Phẩm 

Nhân Văn giai Phẩm là phong trào của văn nghệ sĩ và trí thức miền Bắc, có tầm vóc lớn lao ,  khởi xướng đầu năm 1955 và bị chính thức dập tắt vào tháng 6 năm 1958.

Tháng 3/1955 .Nổi lên phong trào tranh đấu chủ yếu đ̣i trả văn nghệ lại cho văn nghệ sĩ Nhưng phải đến tháng 2 /1956 phong trào mới chính thức công khai, do Hoàng Cầm và Lê Đạt chủ trương, đăng các tác phẩm của Trần Dần, Văn Cao, Sĩ Ngọc, Tử Phác, Phùng Quán , Nguyễn Sáng , Tô Vũ …

 Ngay sau đó Tờ Giai Phẩm mùa Xuân bị tịch thu.Trần Dần và Tử Phác bị bắt.Trần Dần cứa cổ tự vận nhưng không chết . 

Ngày 29/08/1956 , tiếp đó là Giai Phẩm Mùa Thu (tập 1) Ngày 15/09/1956, bản nguyệt San Nhân Văn số 1 do Hoàng Cầm, Lê Đạt, Nguyễn Hữu Đang, Trần Duy, chủ trương và Phan khôi là chủ nhiệm và Trần Duy là thư kư toà soạn Ngày 30/09/1956 ra  Nhân Văn số 2 Ngày 08/10/1956 tái bản Giai Phẩm Mùa Xuân Ngày 15/10/1956 ra  Nhân Văn số 3, Cuối tháng 10/1956 Giai Ph ẩm Mùa Thu (tập 2) ra đời Đồng thời trong tháng này, ở Trường Đại Học, các giáo sư Trương Tửu, Trần ĐứcThảo và một số giáo sư huy động sinh viên cho ra tờ Đất Mới « số 1» với Phùng Quán, Bùi Quang Đoài. Đất Mới ra được một số th́ đ́nh bản.

Ngày 09/12/1956 , Hồ Chí Minh kư sắc lệnh băi bỏ quyền tự do báo chí

Ngày 15/12/1956 , Lệnh đóng của Nhân Văn số 6 đang in th́ bị chận lại .

Từ 20 đến 28/02/1957 Đại Hội Văn nghệ lần thứ 2 họp tại Hà Nội với gần 500 đại biểu , Trường Chinh lên án «Đập Tan« phong trào Nhân Văn Giai Phẩm .

"Phong trào Nhân Văn Giai Phầm bùng phát mạnh mẽ, nhưng chỉ sau ba tháng đă bị dập tắt và phong trào Nhân Văn Giai Phẩm trở thành vụ án Nhân Văn Giai Phẩm bởi tất cả những ai liên hệ sau đó đều ch́m vào cơn ác mộng tù đày hoặc đoạ đày suốt mấy chục năm.

9.4.  Vụ án  cải cách ruộng đất và Tội  ác vi phạm đến nhân loại

Một vài H́nh ảnh Cuộc Cải Tạo Nông Nghiệp Tại Miền Bắc

 

 

 

 

 

Chôn sống và cho trâu kéo cày qua cổ ngựi, tuyệt tác của Hồ chí Minh

Giai đoạn đầu:  Cuộc Cải Cách Nông nghiệp tại miền Bắc  được coi như bắt đầu kể từ Sắc luật Giảm tô số 78/SL ngày 14 tháng 7 năm 1949 và chính sách thuế nông nghiệp của chính quyền kháng chiến nằm trong toàn bộ của chính sách thuế khoá gồm cả thuế Công-Thương nghiệp, sát sinh, Lâm-Thổ sản, xuất nhập cảng, v.v... ra đời từ ngày 1 tháng 7 năm 1951 do Sắc luật số 42/SL của Hồ Chí Minh.

Giai đoạn thứ hai. Cuộc đấu tranh Cải Cách Ruộng Đất bắt đầu từ cuối năm 1955 đầu 1956 trong đợt phóng tay phát động quần chúng đấu tranh Cải Cách Ruộng đất  lên đến mức độ tàn bạo nhất trong cuộc cải cách. Nhiều vị Linh mục Công giáo cũng bị bắt, bị tra khảo và bị giết, trong đó có Cha Thanh, đă từng là Linh mục giảng huấn tại Tiểu Chủng viện Ba Làng năm 1949-1950, một vị chân tu, hiền lành và đạo đức cũng bị sát hại một cách dă man trong tù..

Mục Tiêu Của Cuộc Cải Tạo Nông Nghiệp

 

Trong chế độ Cộng sản, thực chất của Cải Cách Ruộng đất là đảo lộn toàn bộ tổ chức xă hội cũ bằng cách phế bỏ quyền tư hữu  của người dân đối với tất cả ruộng, đất, vườn, ao, hoa màu, trâu ḅ và dụng cụ sản xuất của người dân.. Mục đích của cuộc phế bỏ quyền tư hữu đất đai là để  chiếm đoạt quyền lực chính trị khỏi tay người  dân, và tập trung quyền lực chính trị đó vào tay chế độ chuyên chính vô sản. Nhà  nươc công sản  muốn biến nhân dân vĩnh viễn thành những người nô lệ,  thành thợ vô sản phục vụ cho chủ nhân ông Cộng sản. Những người thợ và trí thức vô sản đă bị mất hết quyền lực chính trị sẽ bị khống chế bởi  :“Ông chủ   Mới“  là  đảng  CS  qua hệ thống hộ khẩu và chế độ b́nh công chấm điểm.

 

Trong  kỳ họp thứ ba của Quốc hội khoá 1,  Hồ Chí Minh đọc báo cáo “T́nh h́nh trước mắt và nhiệm vụ CCRĐ”  và  đă kư 3 sắc  lệnh ban hành Luật CCRĐ do Quốc hội thông qua.

1/ sắc lệnh quy định chính sách ruộng đất, trong đó có việc tịch thu, trưng thu, trưng mua ruộng đất chia cho nông dân;

2/ sắc lệnh quy định việc thành lập Toà án nhân dân ở những nơi phát động quần chúng;

3/ sắc lệnh quy định việc trừng trị những địa chủ ở những nơi phát động quần chúng tiến hành CCRĐ.

 

 Phương cách thi hành

 

A.  Lập Ủy Ban CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT:

Nguyên tắc hành động căn bản của các ủy ban CCRĐ là câu khẩu hiệu: "Thà chết mười người oan c̣n hơn để sót một địch."  Chính câu khẩu hiệu nầy đă đưa đến việc giết hại tràn lan biết bao nhiêu lương dân vô tội.

B. Lập T̉A ÁN NHÂN DÂN:

 

Vi phạm Hiệp định genève, vi phạm công ước quốc tế về những quyền dân sự và chính trị và luật quốc tế Nhân quyền

Các phiên ṭa ,  không có luật sư, vi phạm điều 10 Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền .

Hầu hết những người bị lôi ra ṭa chẳng biết lư do ḿnh bị bắt, bị tội ǵ, không được biện minh ( vi phạm điều 6,7,8,9,11 của TNQTNQ),. Nhưng tất cả đều bị kết tội, một số bị tử h́nh tức khắc tại chỗ, và số c̣n lại bị mang đi ….điều 2 và 3 của TNQTNQ),

Sắc lệnh năm 1953 cũng như sắc lệnh năm 1955 đều thiết lập ṭa án nhân dân để xét xử những tội phạm trong CCRĐ. Kể cả các người đă tự  tử , chết, đều bị đâu tố

Nhân chứng người trong cuộc.

Ông Nguyễn Minh Cần hiện nay đang sống ở Moscova (Nga) - từng là ủy viên thường vụ Thành Ủy Hà Nội, Phó chủ tịch Ủy Ban Hành Chính thành phố Hà Nội, chủ nhiệm báo thủ đô Hà Nội (1954-1962) và trực tiếp tham gia chiến dịch sửa sai cũng phân tích về những hậu quả của cụôc cải cách ruộng đất đă đánh giá Cải cách Ruộng Đất là một chính sách mang nhiều tội lỗi đối với dân tộc Việt Nam, nhất là 4 tội sau đây:

Thứ nhất : Tàn sát thường dân vô tội,

Thứ hai, Phá hoại truyền thống tốt đẹp mấy ngh́n năm của dân tộc.

Thứ ba, Tội phá hoại đạo lư luân thường của dân tộc

Thứ tư, Tội phá hủy truyền thống tâm linh và văn hóq của dân tộc.

Tội tàn sát thường dân vô tội – tội ác chống nhân loại.

Theo Thống kê chính thức của nhà nước CSVN  được đăng trong cuốn Lịch sử kinh tế Việt Nam (tập hai ) 1945-2000, do Viện Kinh Tế Việt Nam xuất bản, cho biết là đă có 172.008 người bị quy vào thành phần địa chủ và phú nông, là những người bị xếp vào loại kẻ thù của nhân dân, bị “đào tận gốc, trốc tận rễ” nghĩa là không bị bắn tại chỗ th́ cũng bị lănh án tù rồi chết trong nhà giam..

Hồ Chí Minh hạ lệnh giết và bỏ tù 5% dân số nông thôn miền Bắc Việt Nam; cho lệnh tiêu diệt vụ Ba-làng; cho giết hàng vạn đồng bào người Mèo ở Hà-giang (các huyện Mèo-vạc và Phó-bảng) và bao vụ như “cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh”, “chỉnh đốn tổ chức” v.v…  

Thư của  Hồ Chí Minh gởi Staline: Báo Cáo & Xin Chỉ Thị Cho Đề Án CCRĐ
Bức thư thứ 1 :

 

Tạm dịch (Thanh Nam) : 

Số tài liệu 88
Đồng chí Stalin kính mến !
Tôi gửi cho đồng chí đề án cải cách ruộng đất của Đảng Lao Động Việt Nam. Đề án này tôi đă hoàn thành với sự giúp đỡ của 2 đồng chí Liu Shaoshi và Van Szia-Sian. Đề nghị đồng chí t́m hiểu và đưa ra chỉ thị về đề án này (CCRĐ)
Gửi tới đồng chí lời chào cộng sản.
Hồ Chí Minh
(đă kí)
31/10/1952  

Việc thiết lập hệ thống toà án nhân dân và lập các ủy ban cải cách  ruộng đất là vi phạm:

1/ Tội ác chống nhân loại , crime contre l’Humanité , crime against Humanity

2/ Tội ác diệt chủng , crime de génocide , crime of genocide

3/ Vi phạm nghiêm trọng bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và Công Ước Quốc Tế về những quyền Dân sự và Chính trị.

9.4. Tàn sát dân Huế 1968: 5800 thường dân bị giết hại và mất tích

Đêm ba mươi Tết, nhằm ngày Ba Mươi Tháng Một dương lịch 1968 ,đoàn quân cộng sản gồm có 12000 lính chính quy Bắc Việt (BV) tấn công và chiếm thành phố Huế trong 26 ngày. Trong thời gian này họ đă giết hại và bắt đưa đi tổng cổng 5800 thường dân Huế.

Các vùng chôn tập thể t́m được:

1. Nhóm mộ thứ nhất được t́m thấy ở trong sân trường ở Gia Hội ngay sau khi quân đội VNCH chiếm lại Huế, ngày 26/02/1968. Tổng số xác chết của nạn nhân bị chôn ở trường học Gia Hội t́m thấy lên đến 170 người.

2. Hai mồ chôn được khám phá gồm 12 hố với 67 tử thi ở Chùa Theravada, thường gọi là Tăng Quang Tự.

3.  Hai hầm chứa xác ba người Việt làm việc cho ṭa đại sứ Hoa Kỳ, hai xác người Mỹ ông Stephen Miller và ông Gompertz, nhân viên USOM, và xác một giáo sư trung học người Pháp, bị hành quyết ở một thửa ruộng đằng sau một chủng viện Công Giáo. Tất cả đều bị trói tay. Xác t́m thấy và liệm ngày 09.02. Xác hai người Mỹ và người Pháp được đưa về Đà Nẵng.

4. tại Quận Tả Ngạn, do một quân nhân người Úc khám phá ngày 10.03.68. Ba hầm rănh với 21 tử thi, tất cả đều nam giới, tay bị trói, đạn bắn xuyên đầu và cổ.

5.  Một hầm khác nằm cách Huế 5 dặm về hướng Đông, được khám phá ngày 14.03.68 do một cố vấn quân sự Mỹ cùng toán lính Việt đi kèm. 25 xác, tất cả đều bị bắn vào đầu, tay trói giật cánh khủyu. Nhờ một cánh tay của một nạn nhân nhôi ra khỏi mặt đất mà hầm được khám phá.

6 Ngoài thi hài cha Urbain, thi hài cha Guy ḍng Thiên An cũng được t́m thấy trong một hầm riêng ngày 27.03.68 gần lăng Đồng Khánh, với vết đạn ở đầu và cổ.

7. Địa điểm chợ Thông, cách nội thành 2 cây số về hướng Tây. T́m được 102 xác. Địa điểm thứ mười ba là vùng lăng Gia Long, ở Thiện Hàm bên bờ sông Hương, cách thành phố khoảng 16 cây số hướng Nam và cách ĐànNam Giao cỡ 13 cây số Tây Nam. Gần 200 xác được t́m thấy dưới các đám cây và bụi rậm, gồm học sinh, sinh viên,nhân viên hành chính, quân nhân và nhiều phụ nữ.

8. Mồ chôn  nằm ở giữa Chùa Tăng Quang và Tường Vân, 2,5 cây số Tây Nam Huế. Ở đó có xác 4 người Đức, 3  bác sĩ Alterkoster, Discher và Horst Gunther Krainick, người Tây Đức, giảng dạy tại Đại Học Y Khoa Huế cũng bị VC giết và một bà vợ ,Tất cả 4 người đều bị dẫn về chùa Tăng Quang sau đó bị thảm sát và vùi chôn ở một cái hố  t́m thấy ngày 02.04.68.

9. Địa điểm ở Đông Gia, 16 cây số phía đông Huế trên đường ra bờ biển, t́m thấy ngày 01.04.68.có 101 xác, đa số bị trói và miệng nhét đầy giẻ.

10. Trong bảy tháng đầu của năm 1969 người ta c̣n t́m được trên 800 tử thi ở quận Phú Thứ (G̣ Cát – Sand Dune). Những ngôi mộ lớn nhất t́m thấy đợt này nằm tại ba địa điểm Vĩnh Lưu, Lê Xă Đông và Xuân Lộ, nằm giấu trong những g̣ cát nhấp nhô với cỏ mọc cao gần băi biển. Ngăn chia bởi những cồn muối, xa với làng xóm, những g̣ cát này là địa điểm lư tưởng để chôn dấu. Ở G̣ Cát, tất cả các nạn nhân đều bị trói gô lại thành từng nhóm khoảng 10 đến 20 người, xếp hàng đứng trước các rănh mới được đào bởi chính các nạn nhân, và bị xữ bắn bằng súng đại liên. Người ta t́m được vỏ đạn đại liên của Nga Sô trong những ngôi mộ này. LM Bữu Đồng và LM Micael Bang, cùng với hai Sư Huynh Ḍng Lasan được kiếm thấy trong những mồ chôn tại G̣ Cát.

11. Khe Đá Mài, nơi t́m thấy 428 nạn nhân. Địa điểm t́m ra ngày 19/9/1969. Ba VC hồi chánh viên đă báo cho toán quân báo của Tiểu Đoàn 101 Nhảy Dù rằng, họ đă chứng kiến cuộc thảm sát của vài trăm nạn nhân tại Đá Mài vào tháng Hai năm 1968, cách Huế khoảng mười dặm.

Nhân chứng

Trong cuốn "The Vietcong Massacre at Hue" (Cuộc thảm sát của Việt Cộng ở Huế) Bác Sĩ Elje Vannema đă ghi lại câu chuyện các nạn nhân đă bị dẫn đi thảm sát trên đường từ chùa Từ Đàm đến Khe Đá Mài do một nhân chứng chạy thoát được kể lại.

Nhiều nạn nhân để lai những dấu hiệu của cái chết thảm khốc: hai tay trói chặt sau lưng, khăn nhét đầy vào cuống họng, nằm cong queo với không thương tích trên người. Đó là dấu hiệu họ đă bị chôn sống. 600 nạn nhân c̣n lại có những vết thương, nhưng nhà giảo nghiệm không thể nói được là họ đă bị xữ bắn hay bị chết v́ lạc đạn.

 

Tội Ác  Tàn sát  Dân Huế  nhân dịp Tết  Mậu Thân 1968 tại Miền Trung cũng giống như cuộc tàn sát  tại Croatie và Bosnie (ex-Yougoslavie) của  Slobodan Milosevic , hoặc tàn sát tại Rwanda .

 

  Không phải Đức Quốc Xă; Không phải Khờ Me Đỏ; Mà là tội ác cộng sản Việt Nam tại Huế 1968

Các Tôn Giáo và Tổ chức tham gia khiếu kiện

Trong Nước

1-     Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (Hoà Thượng Thích Không Tánh, Đại diện)

2-     Khối 8406 (LM Phan Văn Lợi, Đại diện)

3-     Liên-minh Dân-chủ và Nhân-quyền VN (Ky su Đỗ Nam Hải, Đại Diện)

4-     Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền (Linh mục Chân Tín, Đại Diện)

5-     Hội Thánh Tin Lành Đấng Christ Việt Nam  (MS Nguyễn Công Chính, Chủ Tịch)

Hải Ngoại

a. Các Tổ chức chính trị

6-     Đại Việt Cách Mạng Đảng (Ông Đỗ Việt, Đại diện)

7-     Đại Việt Quốc Dân Đảng (Ông Phan Văn Song, Chủ tịch)

8-     Đảng Thăng Tiến Việt Nam (Ông Nguyễn Ngọc Hùng, Đại diện)

9-     Liên Minh Dân Chủ Việt Nam (Ông Nguyễn Quốc Nam, Chủ tịch)

10- Tổ chức Phục Hưng (Ông Trần Quốc Bảo, Chủ tịch)

11- Việt Nam Canh Tân Cách Mạng Đảng (Ông Đỗ Hoàng Điềm, Chủ tịch)

b. Tôn Giáo, Cộng Đồng, Đoàn thể, Tổ chức chuyên biệt

12- Ban Trị Sự Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Ḥa Hảo Thuần Túy Hải Ngoại (Ông Nguyễn Tấn Đức, Đại diện)

13- Thiếu Tướng Lư Ṭng Bá, Quân lực Việt Nam Cộng Hoà

14- Ban Việt Tộc (Ông Vũ Văn Việt, Đại diện)

15- Cơ Quan truyền thông tại Paris, Báo Bạn Đường (Ông Từ Ngọc Lê , Đại diện)

16- Cộng đồng người Việt Quốc Gia Tự Do tại Pháp (Ông Phan Khắc Tường, Đại diện)

17- Cộng đồng Việt Nam Nam California (Ông Nguyễn Tấn Lạc, Chủ Tịch)

18- Cộng đồng Việt Nam tại Liège Vương Quốc Bỉ (Ông Lê Hữu Đào, đại diện )

19- Đoàn Thanh Niên Việt Nam Tự Do (Ông Trần Văn Sơn, Đại diện)

20- Đoàn Thanh Niên Vơ Đạo Việt Nam Đức Quốc (Ông Trần Phước Thiện, Đại diện)

21- Hội Aí Hữu người Việt Tự Do vùng Val de Marne tại Pháp (Ông Nguyễn Giác, Đại diện)

22- Hôi Ái Hữu Tù Nhân Chính trị và Tôn Giáo Việt Nam (Ông Phạm Trần Anh, Chủ Tịch Hội Đồng Điều Hành Hải Ngoại)

23- Hội Dịch Học tại Pháp (Ông Nguyễn như Giác, Hội trưởng)

24- Hội Hải Quân Hàng Hải VNCH tại Pháp (Ông Đặng Vũ Lợi, Hội trưởng)

25- Hội Pháp Việt Tương Trợ AFVE - Président de l'Association France-Vietnam d' Entraide (Ông Bùi Xuân Quang, Hội trưởng)

26- Hội Phụ Nữ Việt Nam Tự Do tại CHLB Đức (Bà Phạm thị Bích Thủy, Hội trưởng)

27- Hội Thanh Niên Việt Nam Ty Nạn tại Pháp - Association des Jeunes Vietnamiens de France (Anh Nguyễn Ngọc Liêm, Hội trưởng)

28- Hội Thanh Thiếu Niên Việt Nam tại Paris –Association des jeunes Vietnamiens de Paris (Anh Nguyễn trác Việt, Đại diện)

29- Liên Hội Người Việt Tỵ Nạn tại CHLB Đức (Ông Lưu Văn Nghiă, Chủ tịch)

30- Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam (GS Nguyễn Thanh Trang, Chủ tịch)

31- Radio VN Hải Ngoại Âu Châu (Ông Đinh Kim Tân, Đại diện)

32- Tập thể chiến sĩ tại Âu Châu (Ông Hoàng Cơ Lân, Đại diện)

33- Tổ Chức Sinh Hoạt Người Việt Tỵ Nạn tại Cộng Hoà Liên Bang Đức (ông Phạm Công Hoàng, Chủ tịch)

34- Ủy Ban Bảo Vệ Chính Nghĩa Quốc Gia Việt Nam Tự Do ( Ông Nguyễn Tường Long , Đại diện )

35- Ủy Ban Điều Hợp Công tác Đấu Tranh của Người Việt tại CHLB Đức (Ông Nguyễn Thành Văn, Chủ tịch)

36- Văn Pḥng Liên Lạc Quân Nhân / Quân Lực VNCH / Âu Châu (Ông Phạm Văn Đức , Đại diện )

37- Văn pḥng Liên Lạc các Hội đoàn và Người Việt Tự Do tại Pháp (Ông Nguyễn Phúc Tửng, Tổng Thư kư)

38- Việt Hưng Hợp Đoàn  (LS Lê Trọng Quát, Đại diện)

39- Vơ Việt Art (Daniel Hoàng, Đại diện) 

                                            

MỤC LỤC

 

1.

I. PHẦN MỞ ĐẦU

1

2.

LUẬT PHÁP CỘNG H̉A XĂ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM vi phạm tự do ngôn luận, tự do báo chí và tự do thông tin

1

2.1.

Tự do ngôn luận, tự do báo chí và tự do thông tin theo Công Pháp Quốc Tế.

1

2.2.

Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền được thông tin theo luật pháp CHXHCN Việt Nam

2

2.2.1.

HIẾN PHÁP CỘNG H̉A XĂ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

2

2.2.2.

LUẬT BÁO CHÍ

4

2.2.3.

LUẬT XUẤT BẢN

5

2.3.

TÓM TẮT

5

2.4.

10 TRƯỜNG HỢP VI PHẠM QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN, TỰ DO BÁO CHÍ

5

 

 

 

3.

VI PHẠM QUYỀN TỰ DO LẬP HỘI, TỰ DO LIÊN KẾT, TỰ DO HỘI HỌP

9

3.1.

QUYỀN TỰ DO LẬP HỘI, TỰ DO LIÊN KẾT, TỰ DO HỘI HỌP theo Công Pháp Quốc Tế. s

9

3.2.

Luật pháp Nhà nước CSVN

9

3.2.1.

Hiến Pháp Nhà nước CSVN

9

3.2.2.

Luật Công Đoàn

10

3.3.

Những vi phạm của luật LẬP HỘI, HỘI HỌP của nhà nước CHXHCNVN

10

3.4

10  TRƯỜNG HỢP VI PHẠM ĐIỂN H̀NH CỦA NHÀ NƯỚC CHXHCNVN

14

 

 

 

4.

VI PHẠM TỰ DO BẦU CỬ, TỰ DO THAM GIA ĐIỀU HÀNH QUỐC GIA

17

4.1.

Quyền bầu cử, tự do tham gia điều hành quốc gia theo luật pháp CSVN

17

4.1.1.

Luật Mặt Trận Tổ Quốc

17

4.1.2.

Luật Bầu cử quốc hội.

18

4.1.3.

Hiến pháp Nhà nước CSVN

19

4.2.

Luật bầu cử và điều 4 Hiến Pháp vi phạm Hiến phápCHXNCNVN.

19

4.3

Luật bầu cử và điều 4 Hiến Pháp vi phạm Nhân quyền

19

 

 

 

5.

VI PHẠM QUYỀN TỰ DO TÔN GIÁO CỦA CHXHCNVN

20

5.1.

Luật Quốc tế

20

5.2

Luật của Nhà nước CHXHCNVN

21

5.3

Những vi phạm của luật tôn giáo của nhà nước CHXHCNVN

23

5.4

ĐÀN ÁP GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT  

24

5.4.1

Sơ lược về Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (EBUV)

24

5.4.2

10 TRƯỜNG HỢP vi phạm đối với Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ('EBUV)

26

5.5

ĐÀN ÁP GIÁO HỘI CÔNG GIÁO

31

5.5.1

10 TRƯỜNG HỢP VI PHẠM QUYỀN TỰ DO TÔN GIÁO ĐỐI VỚI GIÁO HỘI CÔNG GIÁO VIỆT NAM.

 

31

 

 

 

5.6.

ĐÀN ÁP CÁC HỘI THÁNH TIN LÀNH

40

5.6.1

Các Hội thánh Tin lành Mennonite

40

5.6.2

Hội Thánh Tin Lành Toàn Vẹn Việt Nam

45

5.7

ĐÀN ÁP PHẬT GIÁO H̉A HẢO

47

5.8

ĐÀN ÁP ĐẠO CAO ĐÀI

50

 

 

 

6.

ĐÀN ÁP DÂN TỘC THIỂU SỐ  

52

6.1

Luật Quốc tế

52

6.2

Những vi phạm cụ thể đối với dân tộc thiểu số

53

 

 

 

7

CHẾ ĐỘ LAO TÙ DĂ MAN VÔ NHÂN ĐẠO

61

7.1

GIAM GIỮ VÔ THỜI HẠN

61

7.2

KHỦNG BỐ HÀNH HẠ TÙ NHÂN

61

7.3

ĐÁNH ĐẬP TÙ NHÂN CHO ĐẾN CHẾT

62

7.4

DANH SÁCH XỬ TỬ HÀNG TRĂM TÙ NHÂN CHÍNH TRỊ

63

 

 

 

8.

TỔNG KẾT  

67

 

 

 

9.

PHỤ ĐÍNH

68

9.1.

DANH SÁCH TÙ CHÍNH TRỊ VÀ TÔN GIÁO ĐANG BỊ GIAM GIỮ

68

9.2

Vụ Án Nhân văn Giai phẩm

74

9.3

Vụ án Cải cách Ruộng đất.

75

9.4

Vụ Thảm sát Tết Mậu Thân 1968

78

 

CÁC TÔN GIÁO VÀ TỔ CHỨC THAM GIA KHIẾU KIỆN

82

 

                                                                   

 

International Support Committee for Human Rights and Democracy Movement in Vietnam

 

Europe

c/o Dr. Nguyễn Quốc Nam

269 Avenue Daumesnil

75012 PARIS - France

Tél: 33 6 15 08 1999

or

Postfach 101722

60017 Frankfurt/M - Germany

 

Canada

c/o Avocat Lâm Chấn Thọ

500 Place d’Armes, Bureau 2100,

Montreal, Quebec, H2H2W2, Canada

Or

BP 203

75624 Paris cedex

France

Australia

c/o Avocat Vo Minh Cuong

PO Box 462 Marrickville, NSW 2204

Australia

USA

c/o Pr Nguyen Tan Lac

11761 Samuel Drive, Garden Grove, CA

Tel and Fax: 714-539-1607

 

 

 

                                                   

 

Xin giới thiệu
 
"Thủ Tục Khiếu Kiện 1503 " của Liên Hiệp Quốc (LHQ), khá rơ ràng, không quá phức tạp, không phiền phức cho nạn nhan, vì  một tổ chức không chính phủ, một nhân chứng (temoin-witness) có thể làm thủ tục này thay cho nạn nhân ....nếu chính  nạn nhân  không muốn đứng ra làm đơn kiện....
Uy ban bạo vê nhân quyên của LHQ sẽ mở cuộc điều tra nếu có "một số " hồ sơ được đệ trình để xét về tình trạng nhân quyền tại Vn

Như đã trình bày dưới đây, LHQ chú trọng đến những vi phạm nhân quyền có tính cách quy mô, tổ chức.Tuy vây một cá nhân là nạn nhân về  vi phạm nhân quyền tai Vn có thể trình đơn lên LHQ nếu họ chứng minh được đây là trường hợp thông thường hay sẩy ra tai Vn (it' nhât' là có 6-7 ca trường hợp)

Đây là một lợi khi' cho tất cả những nan nhân bi vi phạm nhân quyền tai VN và cũng là một cuộc vận động lâu dài để chính quyền CSVN phải trả lời trước Tòa án quốc tế những vi pham nhân quyền  trong hiện tại và quá khứ (hành động côn đồ, đàn áp hung bạo, khủng bô’, cướp đất , ruộng, thủ tiêu,tội ác Tết Mậu thân.,trong trại giam .....) 

--------------------------------------------
Thủ Tục khiếu kiện 1503
(TTkk 1503)
TTKK 1503 được ap’ dụng lên cac’ quốc gia trên thế giới, dưới sự chỉ đạo của hai ủy ban trách nhiệm về nhân quyền của Liên Hiêp Quốc
Hai Ủy Ban này sẽ xét những hố sơ khiếu nại của ̀ những thường dân hay các tổ chức không chính phủ khi có chứng cớ chắc chắn, co’ cơ sở nằm trong khuôn mẫu nhất quán (motifs cohérents – consistent pattern) về xâm phạm nhân quyền .
Đã có nhiều thay đổi đáng kể của Thủ Tục Khiếu Kiện 1503 do Hội Đồng Nhân Quyên từ khi thủ tục này ra đời : thủ tục nhẹ nhàng hơn , Xét xử tương đối nhanh chóng

 

Xin tóm tắt: những điểm quan trọng
1. Cơ quan nhân quyền LHQ chủ yếu chú trọng đến tình trạng nhân quyền một quốc gia bị thưa kiện nhưng tự giới hạn, không xét xử trường hợp đặc biệt của một cá nhân. Tuy vậy, nếu trường hơp của cá nhân này xẩy ra thường xuyên ở trên một quốc gia nào đó, thì đơn khiếu kiện của cá nhân đó sẽ được xét xử (thường xuyên nghĩa là đã có 6-7 trường hợp tương tự vi phạm nhân quyền nghiêm trọng đã xẩy ra)

Thi’ du cụ thể số 1:

 10 người bị bắt bớ đánh đạp giam giữ không xét xử, ai có quyền làm Thủ Tục khiếu kiện 1503
a) cả mười người này co’ quyền làm một cách tổng hợp
b) một ông X trong đám 10 người này có quyền đệ đơn vói tất cả các tang chứng, tên tuổi, đia chỉ ngaỳ giờ, sự cố …những người bị bắt
c) Một nhân chứng qua đường , một người thân của 10 nạn nhân này, một tổ chức không chính phủ cũng có quyền đệ đơn TTKK 1503


Thi’ dụ số 2 :
Một cá nhân bi sách-nhiễu, tịch thu ruộng đất không thể làm TTKK 1503 .Nhưng nếu cá nhân này co’ bằng chứng là đã có nhiều người ở trong tình trạng đó .(it’ nhất 6-7 ca), đơn TTKK 1503 sẽ được chấp nhận.


Tóm lại LHQ chú ý nhiều đến những xâm phạm nhân quyền có tích cách tổ chức, hệ thống và các loại hình thức xâm phậm nhân quyền (thí dụ :thủ tiêu,tù không sử ,  trói , cột ,hành hạ  gọi lên" làm việc " liên tục, không giờ giấc…). Cá nhân không bi bỏ rơi, nếu cá nhân có thể chứng minh được là trường hợp của họ đã thường xuyên xẩy ra
Để tránh phiền phức, cá nhân có thể qua một tổ chức không chính phủ để làm TTKK 1503.

 

2. Cơ quan Nhân quyền LHQ có nhấn mạnh đến viêc các nạn nhân trước khi gửi TTKK 1503 lên LHQ, các nạn nhân phải sử dụng hết các biện pháp trong nước cho phép họ phản bác, khiếu kiện. Cụ thể là đã qua công an, cảnh sát, tòa án, thư từ lên các quan chức, báo chí…và không có kết quả trong một thời gian « vừa phải »…


Nhưng Luật quốc tế cũng công nhân rằng có trường hợp những biện pháp bảo vệ người dân trong nước hoặc không có, hoặc không hiệu quả, nạn nhân có thể trong điều kiện đó không cần phải qua nhưng thủ tục thông thường như đã nói trên, và có thể đệ đơn thẳng lên LHQ, nhưng phảỉ chứng minh được sự kiện này

 

3. Hoàn tất hồ sơ
Trướ́c tiên, phải cho tên tuổi , địa chỉ, không được vô danh. Ngôn ngữ lịch sự, không bất nhã, không mạ lỵ
Hồ sơ KK trực tiếp gửi đến Văn Phông Cao Ủy Nhân Quyền hay LHQ
Cần nhất nên ghi rõ KHIẾU KIỆN theo THỦ TỤC 1503.

Commission/Sub-Commission Team (1503 Procedủre )
Treatíes & Commíssion Branch
Office of̀ the High Commissionner for̉ Human Rights
United Nations Office at Geneva
1211 Geneva 10, Switzẻland
Fax + 41 22 9179011
E mail
1503@ohchr.org


Có thể gửi hồ sơ khiếu kiện qua bưu điện, fax, họac e-mail.

cung co' thể qua Luât su Lam chân' tho  canada   
lamchantho@excite.com
hay Phap'  
tdbastille89@gmail.com

Một lần nữa , xin chú ý mọi khiếu nại nên mô tả những sự kiện càng nhiều chi tiết càng tốt. Cung cấp tên cùa các nạn nhân bị cáo buộc, ngày, địa điểm và các nhân chứng.


Cần cung cấp nhûng bằng chứng cụ thể, nếu chỉ dựa vào báo chí, đài,tin đồn thì không đủ. Tóm lại phải có cơ sở hợp ly’ chính xác đáng tin cậy để chứng tỏ có sự vi phạm nhân quyền.


Thủ tục chủ yếu kiểm tra các loại hành vi vi phạm nhân quyền trong một quốc gia hơn là tình trạng một cá nhân. Do đó môt người khiêú nai không nên chỉ đơn thuần tập trung vào trường hợp cá nhân của mình, mà phải  chứng minh được tính cách tập thể, thông thường nghia là đã co' it’ nhất 6-7 người trong cùng hoàn cảnh (khuôn mẫu nhât' quan')

.
4. Vài bổ xung quan trọng:


4.1 - Khuôn mẫu nhất quán (cónsiśtent patter̉n, motifs cohérents)
Để biểu thị một khuôn mẫu nhất quán, các thông tin phải đưa ra một số đáng kể về các vụ vi phạm nhân quyền đối với các cá nhân khác nhau. Trong quá khứ, các Ủy Ban về Nhân Quyền đã quyết định rằng, con số 6 hoàc 7 trường hợp là đủ quy định tính cách khuôn mẫu nhất quán.


4.2 – Vi-pham nghiêm-trọng (Gross violations - violations flagrantes)
Được coi như vi phạm nghiêm trọng đến quyền con người là tra tấn, thủ tiêu, xử tử không qua toà án, xử tù tùy tiện, xét xử sơ sài (ngay cả việc xử tù sau một phiên ṭa bất công), bắt bớ tùy tiện thường xuyên, hoặc giam giữ lâu dài mà không được toà an xét xử, không bằng cớ, ̀quyền ra đi khỏi nước bị khước từ liên tiếp.....


Những xâm phạm bất kỳ một quyền nào của con người trên Bản Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền đều có thể được xét xử theo thủ tục TTKK 1503 này.


4.3 - Những đặc điểm chính và ích lợi của TTKK 1503
• TTKK 1503 cho phép LHQ xét đoán về tình trạng nhân quyền của một quốc gia ..Khi có một số hồ sơ về khiếu kiện nhân quyền của một nước nào đó được đệ trình lên. LHQ có thể băng khoăn dến vấn đề nhân quyền nước đó và có thể quyết định thể lệ xét xử.


• khi có một số lớn tang chứng cho hay là có một nhóm người hay một cá nhân đơn độc (ở trong tình trạng đã có của 6-7 người khác) bị vi phạm nhân quyền và người khởi tố muốn dư luạn để ý đến tình trạng nhân quyền quốc gia này hơn là đến tình trạng một cá nhân riêng biệt. TTKK 1503 là phương thức tốt .


• Một lần nữa: Ủy ban nhân quyền LHQ  với TTKK 1503  không xét sử tình cảnh riêng biệt của một ngừoi.


(http://www.frontlinedefenders.org/manual/en/exdrmam.htm#Exhaustion%20ofyo20domesti c%20remedies)
http://www.un1503petition.com/vP/french/frwhatIsTheUN1503.htm

 

Tài liệu về thủ tục Khiếu Kiện 1503 LHQ tiếng Pháp:

http://www.claiminghumanrights.org/hrc_complaints.html?&L=1

http://www.claiminghumanrights.org/scheme_1503.html?&L=1
http://www.unhchr.ch/french/html/menu2/8/1503_fr.htm

http://www2.ohchr.org/french/about/publications/docs/fs7_fr.htm

http://www.frontlinedefenders.org/manual/fr/udhr_m.htm

Tài liệu về thủ tục Khiếu Kiện 1503 LHQ Tiếng Anh

http://www.claiminghumanrights.org/hrc_complaints.html

http://www.claiminghumanrights.org/scheme_ohchr.html?&L=0

http://www2.ohchr.org/english/bodies/chr/complaints.htm

Tài liệu về thủ tục Khiếu Kiện 1503 LHQ Tiếng Đức

http://files.institut-fuer-menschenrechte.de/488/d13_v1_file_40a9e17a9565c_DIMR_2003_Individualbeschwerde.pdf

http://www.bpb.de/publikationen/440GS5,3,0,Der_UNMenschenrechtsrat:_Neue_Kraft_f%FCr_den_Menschenrechtsschutz.html

http://www.bmj.bund.de/enid/2733da41605e3cdd10313a0a51b0c5c2,c1b2c85f7472636964092d0935323933/Vereinte_Nationen/Beschwerdeverfahren_vor_dem_Menschenrechtsrat_1fw.html

 

                                              TÓM  LƯỢC

 

A Chuyên chính  cộng sản

Với điều 4 của Hiến pháp, ĐCSVN nắm toàn bộ trong tay dất nước VN. Đòi hỏi Đa nguyên chính trị là một tội nặng

Trong thực tế, Bộ chính trị gồm 15 người cai quản VN ,thường là cụu bi’ thư dảng ( một mafia)

Công an là tay phải cua dcs. Phần lớn nhữ̃ng  Bí thư dảng từ Công an ra.

Quốc hội :chỉ có bổn phận chấp thuận mọi quyết định của chính phủ. Dân biểu được dcs  đề cử  ra ứng cử.. Vai trò lập pháp của Quốc hội hoan toạn bi cướp đi.

Công lý được đặt dưới quyền của dcs. Phán quyết thường được quyết định trước khi tòa khai mạc

Ba quyền :lập pháp, tư pháp và hành pháp đếu ở trong tay ĐCSVN

 

B Tự do căn bản  bị hủy bỏ

 

Hiến pháp’ VN công nhận quyền tự do ngôn luận, báo chi’, hội họp, đi lại…??.

Nhưng báo chí đều trong tay ĐCSVN.Không có một tờ báo tư trên hơn 5000 , chỉ có một ban biên tập : ĐCSVN

Công ước của LHQ về quyền  dân sự, chính trị  được VN ký năm 1982 không được kính trọng.Vào thời buổi đó, chính quyền CSVN mong được vào Tổ Chức Thương Mại Quốc Tế, và được xóa tên trên bảng những nước độc tài.

 

C Bộ máy đàn áp được đặt trên những luật man dợ cua Pháp lệnh 44 và diều 88,258 cua Luật Hình sự

Pháp luật 44 cho phép nhà cầm quyền giam giũ ở nhà tù,hay  tại gia ,hay tại nhà thương điên không cần xét sử  trong 2 năm.

Nước’ Ba lan trong ngày họp của Uy Ban Nhân Quyền ngày 08/05/2009 tai Geneve  đòi Vn phải hủy bỏ PL 44

 

Giúp cho sự lợi dụng quyền lưc :

-điều 88 của  Luật Hình sự : có tội những người tuyên tryuền chống nhà nước

- điều 258 :những ngừoi lợi dụng quyền tư do ngôn luận ( !!!)xâm phạm quyền lợi nhà nước..

         Nhiều nhà báo, nhân sĩ ,đang ỏ tù  vì  hai điều trên

 

Trong khi chờ đợi chính thể man dợ này mất đi, chúng tôi đòi  chính quyền CSVN phải hủy bỏ điều 4 của Hiến Pháp, bỏ Pháp lênh 44, và những khoản 88, 258 của Bộ Hình Sự ; phải củng cố xã hội dân sự

 

Chúng tôi giới thiệu THỦ TỤC KHIẾU  KIỆN 1503 của Uy ban nhân quyền LHQ cho phép những nạn nhân của chính quyền cs có thể dệ đơn lên  Uy Ban này

 

Thời gian dài và thể lệ có quy định, kết quả còn tùy thuộc, nhưng Thủ Tục này  cho tất cả nhưng nạn nhân  bị vi pham  có phương tiện được bảo vệ qua các tổ chức không chính phủ và qua internet

Hơn nữa, những tổ chúc không chính phủ, sau  khi nộp đơn giúp cac’ nạn nhân có thể phổ biến lên mạng những ca này và tìm phương thức cứu gíúp khần cấp nếu cần

Sự kiện này cũng để khuyến khích các nạn nhân dùng internet, điều mà ĐSCVN như tất cả các độc tài  rất lo sợ.

 

 

                                                                

 

 


 


[1] Điều 8. (luật mặt trận Tổ Quốc)Tham gia công tác bầu cử

Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của ḿnh, theo quy định của pháp luật về bầu cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức hiệp thương, lựa chọn, giới thiệu những người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân; tham gia các tổ chức phụ trách bầu cử; phối hợp với cơ quan nhà nước hữu quan tổ chức Hội nghị cử tri ở nơi cư trú, các cuộc tiếp xúc giữa cử tri với những người ứng cử; tham gia tuyên truyền, vận động cử tri thực hiện pháp luật về bầu cử; tham gia giám sát việc bầu cử đại biểu Quốc hội, bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.

 

[2] http://en.wikipedia.org/wiki/Kok_Ksor: Kok Ksor was born in 1945 in Gia Long Province, in the Central Highlands of Vietnam. He is a member of the Jarai ethnic group and the President of the Montagnard Foundation, Inc., an organization, begun as an RSO at the University of Chicago, which states that its mission is to preserve the lives, rights and culture of the Montagnard people.

Kok Ksor is also a member of the Transnational Radical Party (TRP), a non-government agency that investigates human rights abuses in the world.