Vượt Biên Đường Bộ  HUYÊN CHƯƠNG QUƯ . Việt Báo Thứ Sáu, 10/1/2010, 12:00:00 AM

Vượt Biên Đường Bộ

Tác giả: Huyên Chương Quư

 

Bài số 3006-28306-vb5093010


Tác giả Huyên Chương Quí nhận giải thưởng Việt Báo Viết Về Nước Mỹ 2009 và h́nh b́a sách mới. Trân trọng giới thiệu sách Khát Vọng Tự Do của Huyên Chương Quí với thân hữu Viết Về Nước Mỹ. Mua sách, xin liên lạc tác giả, KHAI HUY, Địa chỉ: 1250  S. Euclid St. # I - 350 Anaheim, CA 92802, USA. Giá sách: 17 Mỹ kim (Thêm cước phí $2 trong nước Mỹ, $5 ngoài nước Mỹ)

Tác giả Huyên Chương Quí, tên thật là Khải Huy, giải thưởng Đặc Biệt Viết Về Nước Mỹ 2009, vừa báo tin vui: đă hoàn tất việcï xuất bản  tác phẩm đầu tay.Tập Truyện “Khát Vọng Tự Do”. Sách hiện đă sẵn sàng gửi tới bạn đọc, và sẽ chính thức ra mắt trong tháng 10 sắp tới.
Là một sinh viên Saigon, sau tháng Tư 1975, tác giả từng  bị chế độ cộng sản xua đi làm “nghĩa vụ quân sự” tại chiến trường Kam Pu Chia. Cuối năm 1980, Quí một ḿnh vượt biên đường bộ,  qua biên giới Thái Lan, hai lần vượt ngục khi bị quân của Khờ Me Đỏ và sau đó là Khờ Me Tự Do bắt giam, định cư tại Mỹ từ 1982. Hồi kư sau đây  trích từ sách Khát Vọng Tự Do, kể lại những gian nan của người vượt biên đường bộ, từng chứng kiến thảm cảnh người vượt biên bị quân Khờ Me Đỏ cướp bóc, hăm hiếp, tàn sát.

 

***

 

Vượt Biên Giới
Nước Thái ở hướng Tây Campuchia. Khi mới vào rừng, tôi cứ nhắm hướng Tây đi tới, gần gần con đường ṃn, để tránh bị lạc hướng. Lần lần, có nhiều cây rừng rậm rạp che khuất, hoặc nhiều vũng bùn lầy rộng chắn lối, tôi phải đi ṿng đến những nơi thưa cây nên xa dần đường ṃn, bị lạc luôn trong rừng.
Trời không trăng. Trong đêm tối, tôi phải vẹt cây gai, cây dại dầy đặc nên tốc độ đi rất chậm. Thời khắc trôi qua theo từng bước chân, tôi chẳng biết đi được bao xa rồi. Nếu muốn quay về cũng không biết đi theo hướng nào. Thôi, cứ bước tới. Tối nay t́m chỗ ngủ sớm, đợi ngày mai xem mặt trời, sẽ dễ định ra hướng Tây.
Rán đi tiếng nữa, bụng cồn cào. Tôi chợt nhớ từ xế chiều đến giờ chưa ăn ǵ. Nhịn đói thôi. Mai t́m trái cây rừng để ăn. Đến một vũng nước, tôi vốc nước uống đầy bụng rồi đi tiếp. Hai năm trước theo đơn vị hành quân, vài lần đóng quân trong rừng, nhưng có đồng đội chung quanh, nên không có ǵ sợ hay buồn. Bây giờ, một ḿnh trơ trọi, chung quanh là màn đêm thăm thẳm, tôi thấy sợ sợ. Thêm cái cảm giác thật cô đơn, buồn bă khi nh́n lại ḿnh như một bóng ma trơi trong rừng đêm. Thấm mệt rồi, nhịn đói ngủ thôi.
Tôi bứng nhiều bụi cỏ đem đến lót nơi một lùm cây rậm rạp. Tiết trời mùa đông ban đêm, lúc đi không thấy lạnh, nhưng khi nằm xuống cỏ, thấy lạnh kinh khủng. Chỉ mặc cái quần sọt và áo thun ngắn tay mỏng manh, nên cả người tôi run lên cầm cập. Tôi nằm co quắp người lại cố dỗ giấc ngủ. Cái lạnh, cái đói hành hạ, lại có nhiều tiếng ù u, ù u vang vang ở xa xa, và tiếng sột soạt của thú rừng đi ăn đêm, tôi không thể nhắm mắt.
Thao thức đến trời tờ mờ sáng, tôi ngủ luôn một giấc say sưa. Thức dậy, đă 12 giờ trưa. Nắng chang chang chói hai con mắt. Tội t́m vũng nước rửa mặt và vốc nước uống. Mặt trời ngay trên đỉnh đầu. Thế này, biết hướng nào là hướng Tây?
Giải quyết cái đói trước đă. Tôi đi ṿng ṿng t́m trái cây rừng. T́m cả tiếng vẫn không thấy một loại cây nào có trái. Mặt trời đă hơi nghiêng về phía Tây. Nhịn đói đi vậy. Tôi phải luồn lách qua nhiều khu cỏ gai, tránh những đám cây rậm, ṿng qua những đầm nước rộng, nên có  lúc phải rẽ sang Nam, lúc quẹo qua Bắc, rồi mới tiếp tục đi theo hướng Tây. Mệt th́ ngồi nghỉ chút, thấy đói th́ uống nước vũng cầm hơi. Đi sáu tiếng rồi vẫn không thấy biên giới Thái đâu.
Mặt trời dần tắt nắng. Bóng tối dần phủ xuống cả khu rừng. Tôi lại phải ḍ dẫm đi từng bước. Gai cào sước khắp tay, chân, đau buốt. Bao tử, ruột, gan muốn nát vụn v́ sự cào cấu của cơn đói. Hai ngày rồi không ăn ǵ. Lần đầu tiên tôi mới thấm thía cái đói thật sự như thế nào. Thèm cho vào bụng bất cứ cái ǵ, dù là vỏ cây, lá cây hay cỏ dại để có thể qua được cơn đói. Tôi c̣n đủ lư trí không làm như vậy v́ sợ bị trúng độc, sẽ ngă bệnh. Bệnh nặng trong cảnh một thân, một ḿnh nơi rừng sâu lạnh lẽo thế này đồng nghĩa với cái chết. Sẽ bỏ xác trong rừng sâu không ai biết đến. Chỉ c̣n biết uống nước vũng dằn bụng. Rán đi thêm hai tiếng nữa, tôi lại bứng cỏ lót chổ nằm trong lùm cây rậm.
Vừa chợp mắt ngủ được một chút th́ mưa gió trùm phủ khu rừng. Tôi ngồi dậy, co rúm người v́ lạnh. Nước mưa tạt xối xả lên người. Tôi chui vào một bụi cây rậm nhất, vẫn không tránh được nước mưa. Người tôi run lên từng hồi như bị mắc kinh phong. Mưa càng lúc càng to. Gió rít liên hồi, cây rừng nghiêng ngả. Đến sáng, mưa bớt dần, không dứt hẳn.
Suốt đêm không ngủ, phải chịu đựng mưa gió, tôi mệt quá, nhưng cũng cố gắng lên đường. Đi loanh quanh suốt buổi trong trời mưa rỉ rả. Lại xui, đôi dép bị đứt quai. Đành đi chân không. Rừng thẳm âm u trong cảnh trời tù mù không thấy mặt trời kéo dài năm ngày liền. Tôi không phân biệt được phương hướng, cứ đi ḷng ṿng măi. Chỉ thấy rừng tiếp nối rừng. Đi chân không trong rừng là cả một cực h́nh. Hai chân chảy máu, bắt đầu sưng lên. Tôi đi cà nhắc từng bước một.
Nhịn ăn bảy ngày rồi. Bao tử đă tê liệt nên tôi không c̣n cảm giác biết đói nữa. Nước vũng kéo dài sinh mạng tôi. Thân xác ră rời, nhiều khi ngất xỉu, không biết bao lâu, tỉnh dậy lại loang choạng bước đi. Tôi không c̣n ư thức ngày và đêm nữa, có lúc cảm thấy tuyệt vọng lắm. Quư ơi ! Mày không thể chết lặng lẽ trong rừng sâu thế này. Phải sống, phải tiến tới để t́m được bến bờ tự do. Tôi quỳ xuống khấn nguyện Ơn Trên thiêng liêng phù hộ cho tôi vượt thoát khu rừng. Với ư chí sinh tồn mạnh mẽ, cùng với niềm tin có Ơn Trên cứu độ, tôi cứ cà nhắc từng bước đi tới.
Mưa đă dứt hẳn. Tôi có được một đêm ngủ thật say đến 2 giờ trưa hôm sau. Có sức lực, thêm trời nắng tốt và mặt trời chỉ hướng Tây, tôi lần ra được dấu vết xe ḅ hằn trên cỏ. Đi theo đường xe ḅ bốn tiếng, rừng thưa dần, và trước mặt tôi là một khu vườn chuối. Đă ra khỏi rừng.
Tính ra, tôi bị lạc trong rừng tám ngày, đêm. "Được sống rồi...Được sống rồi !" Tiếng reo to của tôi đem đến sự hiểm nguy. Hai tên lính Polpot không biết từ đâu lù lù hiện ra. Tôi bị chúng chỉa súng đưa đến một căn lều tranh lụp xụp trong vườn chuối. Lúc đó, có sáu người vượt biên khác cũng đang bị một toán lính Polpot dẫn tới. Chúng tôi bảy người, bốn đàn ông và ba phụ nữ trẻ đẹp bị chúng bắt cởi hết quần áo. Hai tên đứng chĩa súng, bốn tên lục các quần áo t́m vàng, bạc. C̣n ba tên lần lượt khám xét từng người chúng tôi để lấy nữ trang, đồng hồ. Tôi chỉ có cái đồng hồ đeo tay bị chúng lột ngay. Ba người phụ nữ bị hai tên lính vừa khám xét lấy nữ trang vừa ṃ mẫm khắp chổ kín. Lục xét xong, chúng cho bốn đàn ông được mặc đồ lại và ngồi xuống một góc nhà, c̣n ba phụ nữ vẫn bị bắt đứng trần truồng như nhộng trước mắt mọi người.
Trời chạng vạng, bọn lính Polpot tụm lại ăn cơm. Họ không cho chúng tôi ăn uống ǵ. Cơm nước xong, ba tên cầm súng ra đứng canh trước cửa, sáu tên c̣n lại trong nhà kéo ba cô gái nằm xuống đất để thỏa măn dục vọng. Các cô dẫy dụa, la hét, van xin. Nghe tiếng nói, tôi nhận ra hai cô người Việt, một cô người Tàu.
Mặc cho các cô kêu gào, khóc lóc thảm thiết, chúng vẫn tiếp tục hành vi cầm thú. Một anh trong nhóm ba đàn ông bị bắt chung bổng hét lên "Đ.M... Tao liều chết với tụi mày" rồi nhảy vào kéo bật hai tên lính Miên ra khỏi thân thể trần truồng của hai cô gái Việt. Một người đàn ông Việt khác cũng nhảy ào tới giúp sức cho anh. Có lẽ hai anh là người thân của hai cô gái. Cả ba, bốn tên lính Miên cùng nhào vào đấm, đá túi bụi hai anh. Sự uất ức biến thành sức mạnh, hai anh can đảm chống đỡ và đánh trả lại. Thấy cảnh hổn chiến kéo dài, một tên lính Miên cầm súng gác ở cửa chạy vào dùng báng súng nện liên tục lên đầu một anh. Máu trên đầu anh tuôn xối xả; anh ngă lăn kềnh ra mặt đất, nằm bất động. Tiếp theo là hai, ba tiếng súng nổ. Anh thứ hai bị trúng đạn cũng đổ nhào cả thân người xuống đất. Tên lính Miên c̣n điên cuồng dí họng súng gần mặt xác chết bắn thêm vài phát nữa. Bấy giờ, tôi đă ngồi thụp xuống ở xó lều. Thừa lúc lộn xộn đó, trong màn đêm bao phủ, tôi từ từ ḅ ra vườn chuối. Khi ḅ khá xa căn lều tranh, tôi đứng dậy đi cà nhắc theo đường xe ḅ. Nhiều tiếng súng nổ sau lưng. Với ḷng cầu sống, dù chân bị sưng, tôi vẫn chạy thục mạng, nhanh như gió. Không biết bao lâu, đuối sức, tôi nằm ngă ra trên một băi cỏ. Máu chảy dầm dề ở hai bàn chân, nhức nhối không tả xiết.
Trời tối đen. Chung quanh yên tĩnh. Giờ này cũng khuya. Tôi cố gắng vẹt cỏ tranh ḅ tới. Đường xe ḅ được tiếp nối bằng một con đường đất khá rộng. Tiếp tục ḅ theo con đường đất, khoảng tiếng sau, trước mắt tôi hiện ra một bờ hào cao, dài tít tắp, có bóng  người lính cầm súng đứng trên một vọng gác. Tôi đoán đây là biên giới Thái. Ḷng mừng rỡ như được thấy cha mẹ sống lại, tôi chậm chạp ḅ đến gần bờ hào. Nhờ trời tối, lính Thái không nh́n thấy, tôi vượt qua biên giới Thái dễ dàng. Con đường dẫn đến bến bờ tự do đang thênh thang phía trước. Tôi không ngờ... vẫn c̣n nhiều hiểm nguy đang chờ đón tôi !

Vướng Cảnh Lao Tù
Qua khỏi biên giới, trước mắt tôi là đường lộ nhựa. Quên hẳn cơn đau của hai bàn chân, tôi đứng dậy đi tới. Khoảng 30 phút sau, thấy có nhiều ánh đèn leo lét trong những ngôi nhà ở xa xa hai bên đường, tôi đoán là nhà dân nên quẹo vô một lối ṃn, đi đến khu nhà bên trái. Tôi vào trúng một căn nhà bếp, có sẵn cơm, thức ăn trong vài cái nồi trên bếp. Đă nhịn đói suốt tám ngày, nên quên chuyện phải xin phép chủ nhà, tôi vội lấy dĩa, muỗng bới cơm, lấy thức ăn. Trong lúc vội vàng, tôi làm rớt cái nắp nồi gây nên tiếng động lớn trong đêm. Có tiếng người chạy đến. Tôi nhảy ngay xuống đường mương sau bếp. Vài phút sau, một họng súng M16 chỉa xuống đầu tôi. Th́ ra đây là trại lính Thái. Tôi bị bắt, đưa vào một ngôi nhà rộng. Tôi nói bằng tiếng Anh là tôi đói bụng lắm, họ lấy cho tôi dĩa cơm với trứng chiên. Tôi ăn ngấu nghiến thoáng cái đă sạch dĩa. Vừa ăn xong, tôi bị một anh lính Thái chỉa súng lục vào đầu, tra khảo :
-  Are you vi xi ? ( VC )
Hiểu họ đoán tôi là bộ đội Việt cộng, tôi vội trả lời :
-  No vi xi. I am student from Saigon.
-  Why you coming here?
-  I’m looking for freedom. I just want to go to America
Anh lính Thái gằn giọng:
-  I don t believe. You are vi xi.
Ngay sau câu nói là anh đấm vào mặt tôi, và hét lớn:
 - You, vi xi., vi xi.
Tôi cũng hét lên :
-  No ! I am not a vi xi.
Người lính Thái càng tức giận, đấm, đá tôi liên tục, c̣n lấy súng lục nện vào đầu tôi. Vừa khi thấy máu đầu chảy xuống lênh láng trên mặt, trên áo th́ tôi ngất xỉu. Sáng tỉnh dậy, đă thấy một người lính Thái già đứng trước mặt. Ông nói tiếng Việt :
-  Tôi là trung tá, tư lệnh ở đây. Sao em bị đánh như vầy?
Tôi mếu máo :
-  Dạ. Họ nói em là Việt cộng nên đánh em. Em là sinh viên ở Sài G̣n đi t́m tự do.
Vừa nói, tôi vừa lấy ra bọc ni long có vài h́nh ảnh người thân và thẻ sinh viên đưa cho ông, nói tiếp:
- Ông xem giùm, em là sinh viên trường đại học Văn khoa. Em vượt biên qua đây để xin đi Mỹ.
Ông trung tá Thái xem qua giấy tờ, gật đầu :
-  Được rồi. Em chờ đây, chút có xe đến chở em vào trại tị nạn. Hồi trước tôi có tham chiến tại miền Nam Việt Nam. Tôi có vợ Việt ở Gia Định. Em an tâm nhé.
Mừng quá, tôi yên trí ngồi chờ. Khoảng nửa tiếng sau, xe đến chở tôi đi, nhưng không chở đi trại tị nạn mà chở đến Ty công an A Ran. Công an Thái tịch thu hết giấy tờ, h́nh ảnh trong bọc ni long của tôi và tống tôi vào nhà tù.
Sau ba ngày giam giữ, họ chở tôi vào trại lính Khmer Tự do ở trên phần đất Campuchia sát biên giới Thái. Tôi cứ đinh ninh đây là thủ tục phải như vậy trước khi được cho vào trại tị nạn. Ngờ đâu, lính Khmer Tự do đem nhốt tôi vào một cái chuồng gỗ thấp lè tè, phải khom khom người khi xê dịch. Trong chuồng gỗ đă có hai thanh niên người Việt gốc Hoa. Một người có vẻ lớn tuổi hơn cho biết họ là anh em ruột, ở Chợ Lớn, bị bắt nhốt vào đây nửa tháng rồi.
Hàng ngày, chúng tôi bị lính Khmer Tự do bắt đi lao động, đào hầm, hố, đốn cây, chẻ củi. Họ cho chúng tôi ăn ngày hai bửa cơm trắng với muối. Mỗi cuối tuần được ăn một bửa cơm với cá hộp. Tôi lo lắng, không biết phải chịu đựng kiếp lao tù này đến lúc nào?!.
Một buổi trưa, sau khi đào xong cái mương, được cho ngồi nghỉ, tôi hỏi một anh lính Khmer Tự do biết tiếng Việt :
-  Anh có biết chúng tôi chừng nào được cho vào trại tị nạn không ?
-  Không biết nữa. Khi nào "ông lớn" thấy vui th́ thả các anh.
Tôi than thở :
-  Tôi bị nhốt ở đây gần tháng rồi. Biết chừng nào "ông lớn" vui đây? Anh có thể thả tôi đi không ?
-  Đâu được. Anh muốn tôi bị nhốt như anh hở? Ông lớn nghiêm lắm.
Tôi hỏi ḍ :
-  H́nh như trại tị nạn ở gần đây phải không anh?
-  Ừa. Có trại tị nạn NW9 cách đây hai cây số.
 Tôi chỉ ra hướng con đường ở xa xa ngoài trại lính, hỏi :
-  Thỉnh thoảng tôi thấy có xe Jeep cắm cờ thập tự đỏ chạy ngang. Họ là ai vậy?
-  Là Hồng thập tự Quốc tế. Họ lo cho dân tị nạn trại NW9, và cũng thường cung cấp gạo cho trại lính chúng tôi để đổi lấy người tị nạn bị "ông lớn" bắt giữ.
-  Vậy sao "ông lớn" các anh không trao đổi chúng tôi ?
-  Th́ vừa rồi tôi có nói, khi nào  ông lớn" vui sẽ trao đổi các anh để lấy gạo.
Được anh nói chuyện cởi mở, tôi hỏi thêm :
-  Các anh có phải lính của chế độ Lonnol không ?
-  Phải, nhưng bây giờ là lực lương Khmer Tự do của tướng Sonsann.
-  Tôi cũng có người anh rễ phục vụ trong chế độ Lonnol từ năm 1970. Anh rễ tôi tên Thạch Vọng, cấp bực sau cùng là thiếu tá.
Anh lính Miên ngạc nhiên :
-  Hả? Thiếu tá Thạch Vọng hả? Phải ổng có vợ người Việt không? Bả tên Mùi, có hai con trai.
  Tôi muốn hét lên, nhưng kịp ngăn lại, nói trong xúc động:
-  Đúng rồi. Đúng rồi... Anh chị của tôi đó. Rồi tôi hỏi dồn dập :
- Anh quen với ảnh chỉ hở? Bây giờ ảnh chỉ ở đâu ? Có ở đây không ?
Người lính Miên lắc đầu:
-  Chết hết rồi. Khi Polpot vào Nam Vang, đơn vị do ông Vọng chỉ huy rút vào rừng kháng chiến, đóng trại gần biên giới Thái. Được một thời gian, lính Polpot tấn công vào trại, tiêu diệt tất cả. Ông bà thiếu tá Vọng và hai con trai đều bị chúng giết.
ôi sững sờ trước cái tin buồn bất ngờ này. Niềm hy vọng có ngày anh chị em được trùng phùng đă tan thành mây khói! Tôi bật khóc nức nở.
Tối hôm đó, tôi không ngủ được. H́nh ảnh chị Mùi, anh Vọng và hai cháu cứ chập chờn trong đầu tôi. Vậy là hết, anh Phùng, anh Thiện, em Hỷ đă mất v́ đất nước, bây giờ thêm tin chị Mùi chết thảm cùng với gia đ́nh, tôi thật sự không c̣n người thân ruột thịt nào nữa ở trên đời!
Biết được ngoài trại có xe Hồng thập tự thường chạy ngang qua, tôi lập kế hoạch trốn thoát. Sau hơn một tháng bị nhốt, lao động khổ sai, tôi không thể chờ đợi thêm cái ngày được "ông lớn" của trại Khmer Tự do này vui vẻ tha cho.
Một buổi chiều, sau giờ lao động gần con đường lớn ngoài trại, tôi giả vờ đau bụng và xin phép người lính Miên cho tôi đi giải quyết. Người lính Miên đứng chờ. Tôi chui vào một lùm cây rậm. Khi thấy người lính Miên châm thuốc hút và lơ đăng nh́n đi nơi khác, tôi vụt chạy ào ào một quăng xa rồi phóng ra khỏi hàng rào trại. Vài tiếng súng nổ ở phía sau, nhưng tôi đă chạy tới đường lớn cách trại khoảng trăm mét. May mắn thay, từ xa có xe Jeep cắm cờ Hồng thập tự chạy tới. Tôi đứng giữa đường, giơ hai tay lên. Xe ngừng lại trước mặt tôi. Hai người Mỹ xuống xe hỏi:
-  Are you Vietnamese?
Tôi mau mắn trả lời:
-  Yes! I am Vietnamese. I came from Saigon. I looking for freedom. Please help me.
-  OK! We help you.
Tôi mừng rỡ như chết đi sống lại, nhảy lên xe Jeep. Nghe tôi khai bị đói, lạnh trong rừng suốt tám ngày đêm, Hồng thập tự chở tôi vào một bệnh viện dă chiến trong vùng Khmer Tự do, nằm dưỡng bệnh ba ngày. Tôi được cho uống thuốc, ăn cháo và các trái cây bổ dưỡng. Đươc sự che chở và chăm sóc của Hồng thập tự, tôi đă thật sự hồi sinh, nh́n thấy trước mắt một tương lai tươi sáng. Tôi thầm cảm tạ Trời cao thiêng liêng và Ông Bà, Cha Mẹ, Anh Chị Em linh hiển đă phù hộ cho tôi được chuyển nguy thành an.
Sau khi khỏe mạnh, tôi được Hồng thập tự chở vào trại tị nạn NW9. Bấy giờ là giữa tháng 1/1981. Tôi mừng rơi nước mắt. Cảm ơn Hồng thập tự Quốc tế. Cảm ơn những tấm ḷng nhân ái của nhân viên Hồng thập tự và Cao ủy Liên hiệp quốc.

Trại Tị Nạn

Trại NW9 là trại tị nạn dành cho người vượt biên đường bộ. Trại nằm trên lănh thổ Campuchia nhưng ở sát bờ hào biên giới Thái. Một cây cầu nhỏ bắc ngang từ bờ hào biên giới qua đến cổng trại. Hàng ngày, nhân viên Hồng thập tự từ bên đất Thái chỉ bước vài bước trên cầu nhỏ này là vào trại để làm việc. Ngày đầu được vào trại, ḷng rộn ràng vui sướng, tôi hớn hở nh́n những người tị nạn khác đang tập trung ở gần văn pḥng trại xem bảng niêm yết tin tức hay thư từ. Đồng bào Việt Nam tôi đây. Tôi có cảm giác thân thiết với tất cả mọi người, luôn miệng cười với người này, người nọ. Tôi được xếp cho một chổ ngủ trong một dăy lều dài thuộc khu dân sự. Vài hôm sau, được vài thanh niên cho biết, nếu là bộ đội Việt cộng tị nạn chính trị sẽ được cứu xét cho đi Mỹ nhanh hơn. Tôi lên văn pḥng khai ḿnh đă từng là bộ đội, được chuyển ngay qua một dăy lều trong khu bộ đội. Tất cả bộ đội nơi đây đều từ các đơn vị Việt cộng ở gần biên giới đào ngũ chạy qua Thái.
Dân tị nạn trong trại sinh hoạt rất vui vẻ. Dù việc ăn uống có hơi thiếu thốn, nhất là nước, mỗi người chỉ được bốn lít mỗi ngày để uống và tắm rửa, nhưng ai ai trong trại cũng được yên ổn sống qua ngày. Vài ba tối th́ có nhiều người tụ tập liên hoan đưa tiễn người được xuất trại. Chỉ với nước trà và bánh, kẹo đơn sơ, họ mời nhau và đàn ca, nhảy nhót với nhau thật vô tư. Họ an tâm từ nay không c̣n phải sống với cộng sản nữa. Qua những buổi liên hoan đó, tôi quen thân với một người bạn tên Khúc duy Viễn, cũng là bộ đội tị nạn chính trị.
Tôi viết thư thăm anh chị Hải Vân và các bạn thân ở thương xá Rex như Phuợng, Đức, Minh... Một tháng sau, nhận được thư anh Vân và các bạn, tôi nhảy tưng tưng. Ở trại tị nạn, người ta rất khát khao thư từ người thân. Nhận được thư là người ta vui lắm. Vui nhất là những người có thân nhân ở các nước tự do gửi cho tiền. Nhờ đọc báo Văn nghệ tiền phong, tôi liên lạc được một hội thiện nguyện ở bang Kansas, xin hội làm hồ sơ bảo lănh. Tháng rưởi sau, tôi nhận được giấy tờ bảo lănh của bà hội trưởng Mai Liên. Nhờ có hồ sơ bảo lănh này, sau bốn tháng ở trại NW9, tôi được chuyển đến trại Sikiu, cũng là trại tị nạn đường bộ nhưng ở sâu trong đất Thái.
 Trại Sikiu được chia thành hai khu. Khu gia đ́nh và phụ nữ ở chung. Khu khác dành cho thanh niên độc thân, có hai building giống như nhà tù, bị cách biệt với khu gia đ́nh bằng một ṿng rào kẻm gai cao lút đầu. Building 1 gồm nhiều thanh niên ở trại trên một năm v́ không có thân nhân bảo lănh, là building nhà giàu, có bàn đánh ping pong và ai cũng có máy hát nghe nhạc, tiền bạc tiêu xài rủng rỉnh. Đời sống họ sung túc trong hoàn cảnh tị nạn nhờ họ, ai cũng giả tên con gái đăng báo Văn nghệ tiền phong, mục t́m bạn bốn phương, dụ dỗ đàn ông độc thân ở Mỹ gửi tiền, quà cho họ. Tên cô "đực rựa" nào cũng đẹp: Hồng Ngọc, Thu Thảo v.v... Rồi họ gửi h́nh của thiếu nữ xinh đẹp nào đó mà họ có được, làm cánh đàn ông ở Mỹ chết mê, chết mệt. Thời đó, đàn ông độc thân bên Mỹ chịu cảnh khan hiếm đàn bà,  khao khát t́nh cảm lắm, nên dốc túi gửi tiền và quà lia chia cho các cô bạn  "đực rựa”  này, hy vọng sẽ bảo lănh được một cô vợ đẹp như tiên.
Building 2 là building nhà nghèo gồm những bộ đội tị nạn chính trị mới đến như tôi. Đa số là dân bộ đội có gốc rễ ở Sài G̣n hay miền Tây, trong hoàn cảnh tị nạn nghèo rớt mùng tơi vẫn c̣n tánh ăn chơi. Hàng đêm các chàng ta tụ tập thành từng nhóm ca hát, ôm nhau nhảy đầm, rồi kết bè, kết đảng quánh lộn, thường bị an ninh trại kéo ra ngoài building đánh cho một trận. Tôi cứ an phận sống qua ngày tháng. Ban ngày th́ lặng lẽ đi ṿng ṿng trong khu độc thân, nh́n cảnh sinh hoạt mua bán nơi cổng trại, hoặc tṛ chuyện với Viễn. Mỗi tối, tôi thui thủi một ḿnh trên cái chiếu trải trên sàn nhà ở một góc building. Đi t́m đời sống tự do, không phải là tự do kết bè đảng để đánh người hay bị người đánh !.
Hai tháng sau, tôi được phái đoàn Mỹ vào trại làm hồ sơ phỏng vấn, chụp h́nh. Thêm ba tháng rưởi nữa, tôi được chuyển đến trại Phanatnikhom. Được rời trại Sikiu, tôi mừng như người vừa  ở tù ra.
Trại Phanatnikhom là trung tâm tị nạn lớn nhất ở Thái Lan, gồm người vượt biên từ các trại đường bộ và đường biển đă có hồ sơ bảo lănh của thân nhân hay hội đoàn. Họ được chuyển đến đây để chờ được phái đoàn các nước thứ ba phỏng vấn chính thức, quyết định cho đi định cư hay không. Ở trung tâm này có đủ các sắc dân tị nạn: Việt, Miên, Lào. V́ quá đông nên trại không tổ chức phát cơm canh nấu sẵn cho người tị nạn, mà mỗi tuần phát thực phẩm cho từng tổ độc thân hay từng gia đ́nh để tự nấu ăn. Tổ độc thân tôi có năm thanh niên. Cả tổ lănh thực phẩm về rồi chia nhau ai muốn nấu ăn sao th́ tùy. Sinh hoạt ở trung tâm vui nhộn như trong một thị trấn. Có chợ bán đủ loại hàng hóa và nhiều hàng quán bán thức ăn, thức uống như cơm dĩa, hủ tíu, cà phê, bánh ḿ, nước sinh tố... Dân tị nạn có thân nhân gửi tiền th́ tha hồ vui chơi, tiêu xài ở chợ và các hàng quán này. Phượng, Đức ở thương xá Rex giới thiệu tôi với người bạn của hai cô ở bang California tên Nguyễn ngọc Lưu. Tôi được Lưu gửi cho 50 dollars. Nhờ vậy, thỉnh thoảng tôi cũng vào quán phong lưu chút đỉnh sau gần một năm gian truân khổ ải trong hành tŕnh viễn xứ.
Giữa tháng 11 / 1981, tôi được phái đoàn INS Mỹ chính thức phỏng vấn và chấp thuận cho tôi đi Mỹ. Nh́n hai chữ OK của nhân viên INS phê vào hồ sơ, tôi mừng quá cỡ, cả người nhẹ hẫng như muốn bay lên trời.

 

T́nh Đầu Đời Tị Nạn
Nỗi mừng được phái đoàn Mỹ chấp thuận chưa tiêu hóa xong th́ qua hôm sau tôi lại có thêm một niềm vui khác không thể nào ngờ trước được. Tôi từ cửa pḥng thư tín chen ra khỏi đám đông, vừa đi vài bước th́ gặp một thiếu nữ đang đi tới. Cô mặc áo thun trắng ngắn tay bó sát thân ḿnh và cái quần Jean xanh. Nh́n phục sức trẻ trung và khuôn mặt kiều diễm của cô, trông quen quá. Tôi ngẩn người nh́n cô một thoáng và bật reo lên :
-  Trời ơi...Diệu !
Cô gái ngỡ ngàng nh́n tôi rồi cũng reo lên :
-  Anh Quư ! Sau tiếng reo là Diệu nhào tới quàng hai cánh tay qua hai vai tôi, ôm chặc lấy tôi và nói trong xúc động :
- Anh Quư. Em không ngờ được gặp anh ở đây.
Tôi cũng ôm chặt cô, ḷng bồi hồi, vui sướng. Trong hoàn cảnh tị nạn xa xứ này lại được gặp cố nhân. Người con gái xinh đẹp ở Thị Nghè ngày nào có với tôi t́nh thân thiết, và một thời gian tôi đă nhớ nhung cô muốn phát điên v́ ám ảnh nụ hôn đầu đời do cô chủ động ban cho. Buông nhau ra, tôi mời Diệu vào quán. Chúng tôi ngồi sát bên nhau, vừa ăn uống vừa chuyện tṛ vui vẻ. Tôi nói :
-  Từ sau tháng 4 / 1975, không c̣n gặp Diệu, anh nhớ quá chừng.
-  Sao anh không đến gặp em?
-  Ngay ngày 1 tháng 5 anh có đến t́m Diệu mà cả nhà Diệu đi vắng. Sau đó, phải lo toan đời sống mới nhiều khó khăn, anh không có dịp đến thăm em. Khoảng tháng 11 / 1975, anh nhớ em quá nên đến nhà em ở xóm chợ Thị Nghè th́ em đă dọn nhà đi đâu rồi. Thấm thoát đă năm năm rưởi rồi hở Diệu.
-  Đời sống mới trong chế độ Việt cộng khó khăn thiệt. Bố em bị đi tù "cải tạo". Mẹ bán nhà để lấy tiền nuôi Bố, nên dọn đến căn nhà nhỏ khác. Em sống đời con gái nhà nghèo, hết vui chơi phóng túng như trước.
Tôi nh́n Diệu mỉm cười :
-  Đời sống con gái nhà nghèo mà Diệu vẫn đẹp. Bây giờ Diệu đẹp hơn xưa nhiều lắm.
Diệu cũng mỉm cười, không phủ nhận sắc đẹp của ḿnh :
-  Có đẹp hơn mà t́nh th́ thiếu vắng !...
Sau câu nói, Diệu nh́n tôi với ánh mắt long lanh. Tôi muốn ch́m sâu vào đôi mắt đẹp của Diệu. Sự rung động của cái t́nh nam nữ mà từ lâu tôi đă quên đối với Diệu bây giờ lại nổi lên mạnh mẽ trong tim tôi...
Ăn uống xong, Diệu nói :
- Thôi, ḿnh đi anh. Về chổ em chơi nhé. Gặp mẹ em luôn. Mẹ em cũng hay nhắc đến anh.
Ra tới đường, Diệu nhoẻn miệng cười nh́n tôi  :
-  Anh nắm tay em đi. Như hồi ở Thị Nghè vậy.
 Tôi nắm lấy bàn tay mềm dịu, mịn màng của Diệu, ḷng lâng lâng vui sướng. Trời buổi chiều mùa Đông se se lạnh. Diệu đi nép vào tôi như người t́nh bé bỏng. Diệu hỏi :
-  Anh Quư đă có vợ chưa?
-  Đă ai yêu anh đâu mà có vợ.
-  Vậy anh đi Úc với em nhé.
-  Hôm qua, anh mới được INS phỏng vấn cho đi Mỹ.
-  Tiếc quá! Em cũng thích đi Mỹ lắm. Nhưng em có người chị ruột ở Úc, nên mẹ muốn đi Úc. Vài ngày nữa mẹ và em sẽ được phái đoàn Úc phỏng vấn.
Về tới chổ Diệu ở, d́ Sáu, mẹ Diệu, cũng vui mừng khi bất ngờ gặp lại tôi. Nói chuyện một hồi, d́ Sáu nói : "Hai con cứ nói chuyện đi, mẹ qua thăm bà bạn mới đến trại". Khi d́ Sáu đi rồi, Diệu kéo tấm màn che chổ ngủ của cô. Hai đứa tôi có khoảng không gian riêng tư để tâm t́nh. Tôi hỏi : -
-  C̣n bố đâu Diệu ?
Diệu buồn rầu trả lời:
-  Bố em mất rồi. Bố chết rất thảm trên biển...
Diệu lấy tay dụi đôi mắt v́ xúc động rồi kể cho tôi nghe hành tŕnh vượt biển của cô : "Bố em đi tù cải tạo về vài tháng th́ cùng mẹ và em vượt biên. Thuyền em có 43 người, gồm đàn ông, phụ nữ và trẻ em. Đi được sáu ngày, tàu chết máy, lênh đênh trên biển. Rồi một tàu hải tặc Thái áp sát. Chúng 13 tên trang bị nhiều vũ khí nhảy sang tàu em. Chúng lục soát tất cả mọi người, cướp hết mọi thứ vàng, bạc, nữ trang. Sau đó, chúng lôi các cô trẻ đẹp ra để thỏa măn thú tính. Em cũng..." Diệu ngập ngừng không nói tiếp, rồi gục vào vai tôi. Tôi hiểu chuyện ǵ đă xảy ra cho Diệu. Tôi xúc động nắm chặt bàn tay Diệu, im lặng. Vài phút trôi qua, Diệu kể tiếp "Bố thấy em bị làm nhục th́ nhào tới chống cự, bị hai tên hải tặc túm đánh, lấy súng nện liên tục lên đầu bố rồi ném xác bố xuống biển. Sau khi thỏa măn, chúng về lại tàu rồi cho tàu húc lủng thuyền em. Nước tràn vào và thuyền lật. Em và mẹ mỗi người may mắn bám được một mảnh gỗ trôi vào bờ, được người Thái đưa vào trại Songkhla. Vào trại rồi em mới được gặp lại mẹ. Nghe mẹ nói, số người trên thuyền bị chết hết 23 người".
Kể xong chuyện buồn, Diệu im lặng, mắt có ngấn lệ. Tôi không biết nói ǵ để an ủi Diệu, chỉ biết bóp nhẹ bàn tay Diệu, im lặng cảm thông. Một lát sau, bổng Diệu ôm gh́ lấy tôi, đôi mắt lá răm tuyệt đẹp nh́n sâu vào mắt tôi như hớp hồn tôi, rồi hôn tôi say đắm. Lần thứ hai tôi được Diệu chủ động hôn. Nụ hôn lần này kéo dài càng ngọt lịm bờ môi, truyền dẫn vào người tôi cảm giác đê mê, ngây ngất. Không tự chủ được trước hương sắc và sự nồng nàn của Diệu, tôi cũng ôm chặt cô, say sưa hôn lại. Diệu thỏ thẻ ngọt ngào bên tai tôi:
       -  Anh Quư. Em đă yêu anh từ hồi c̣n ở Thị Nghè.
    Tôi cảm động :
       -  Sao em không nói cho anh biết ?
       -  Tại em thấy anh có vẻ không yêu em. Anh chỉ coi em như bạn. Anh có hỏi em, người em thật sự yêu là ai. Em không nói v́... chính là anh đó.
    Ḷng xao xuyến, tôi nói với giọng run run :
       -  Anh cũng yêu em... Chẳng qua hồi đó... anh có nhiều mặc cảm...
       -  Vậy bây giờ...anh yêu em đi...
    Diệu vừa nói với giọng nhiều cảm xúc vừa quàng hai cánh tay trắng nơn nà quanh cổ tôi, kéo tôi cùng nằm xuống...Từ hôm đó, tôi luôn khăng khít bên Diệu. Một tuần sau, tôi có tên trong danh sách xuất trại đi đảo Galang, Indonesia. Ngày cuối ở bên nhau, Diệu tha thiết nói:
- Chúng ḿnh đă có với nhau kỷ niệm đẹp tuyệt vời. Mai đây mỗi người một phương trời, chúng ḿnh sẽ vẫn luôn nhớ đến nhau. Nha anh.
Tôi xúc động :
-  Anh cảm ơn em...Anh sẽ nhớ măi về t́nh yêu em dành cho anh.
Hôm sau, Diệu tiễn tôi lên đường. Phút biệt ly giữa hai người yêu nhau buồn năo nuột. Diêu rươm rướm nước mắt. Chúng tôi ôm nhau thật lâu lần cuối. Tôi hôn lên hai má Diệu rồi lặng lẽ đi theo đoàn người chuyển qua Transit Center, đối diện với Trung tâm Phanatnikhom.
Ngoái nh́n lại, thấy Diệu vẫn c̣n đứng nh́n theo với đôi mắt buồn vời vợi, tôi giơ tay vẫy vẫy. Diệu vẫy tay lại. Chào biệt Diệu. Chào biệt cuộc t́nh đầu đời tị nạn !...

Tự Do Ơi...Tự Do !
Sau bốn ngày ở Transit Center, tôi và nhiều người được xe Bus chở đến một trạm chuyển tiếp gần thủ đô Bangkok, nằm chờ ba ngày.
Khi có chuyến bay, chúng tôi được phát mỗi người một túi thức ăn và lên xe Bus đến phi trường Bangkok. Cảnh đêm thủ đô Bangkok thật đẹp với muôn ánh đèn màu. Ngồi chờ ở phi trường hai tiếng th́ đoàn người tị nạn lần lượt lên máy bay. Nửa tiếng sau, máy bay cất cánh. Ḷng tôi phơi phới, vui như ngày lễ hội. Khoảng ba tiếng sau, máy bay đáp xuống phi trường Singapore. Hôm sau, chúng tôi được chuyển đến đảo Galang, Indonesia bằng thuyền lớn. Tại đảo, tôi gặp lại Viễn, đến trước tôi một tháng. Chúng tôi càng thân với nhau hơn. Rồi Viễn cũng lên đường đi Mỹ trước tôi. Nghe theo lời Viễn, tôi chuyển hồ sơ đi theo bảo lănh của người anh bà con Viễn là anh Dương Minh Hiệp ở bang South Dakota.
Sau bốn tháng rưỡi ở Galang 2, học văn hóa Mỹ và thêm chút tiếng Anh, tôi được rời đảo ngày 21/4/1982. Ở thêm ba ngày trong trạm chuyển tiếp Singapore, tôi chính thức được lên đường đi định cư tại Hoa Kỳ ngày 24/4/1982.
Hành tŕnh viễn xứ của tôi đă tới đích. Khát Vọng Tự Do của tôi giờ đây được toại nguyện. Tôi đă thật sự đặt bước chân lên miền đất Tự Do mà tôi hằng mong ước từ bao năm qua. Xin chào UNITED STATES OF AMERICA - Đất nước tự do, dân chủ, văn minh, nhân bản và giàu mạnh nhất thế giới. Một lần nữa, tôi thầm cảm tạ Trời cao thiêng liêng, Ông Bà, Cha Mẹ, Anh Chị Em linh hiển đă phù hộ cho tôi, trong hành tŕnh nhiều gian truân, trắc trở, được may mắn chuyển nguy thành an. Tự Do ơi...Tự Do ! Tôi đă có được Người !
....
Xin cảm ơn Chính phủ Mỹ, Nhân dân Mỹ đă nhân ái dang rộng ṿng tay đón nhận tôi và cưu mang tôi 28 năm qua.
Trưa nay, trời cuối thu se se lạnh, tôi đến viếng Đài Tưởng Niệm Thuyền Nhân Việt Nam trong khuôn viên nghĩa trang Westminster, tọa lạc trên đại lộ Bolsa góc đường Hoover, quận Cam. Tôi cúi đầu thật lâu trước Tượng Đài để tưởng niệm tất cả vong linh Đồng bào Việt Nam đă bỏ ḿnh trong Hành Tŕnh T́m Tự Do.
Đă có khoảng 200 ngàn người Việt tử nạn trên biển cả trùng khơi hay nơi rừng sâu, nước độc bởi đói khát, băo tố, biển động, hay hải tặc hăm hiếp, giết chết. Trước Tượng Đài có tấm bảng đồng ghi:
"Tưởng niệm đến hàng trăm ngàn Thuyền Nhân, Bộ Nhân Việt Nam đă chết trên đường t́m Tự Do, Nhân Phẩm, Nhân Quyền. Gợi nhớ về cuộc hành tŕnh đầy đau thương và khổ nạn của hàng triệu người Việt rời bỏ Quê Hương sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 v́ không chấp nhận chế độ Cộng sản. Lưu truyền chứng tích đến các thế hệ mai sau về nguyên nhân sự hiện hữu của người Việt tại Hoa Kỳ và các quốc gia Dân Chủ, Tự Do trên thế giới".
         
Tôi lại cúi đầu thật lâu trước Tượng Đài. Những Thuyền Nhân, Bộ Nhân đă chết trên đường vượt biển hay đường bộ để cho nhiều người thân ruột thịt được sống, được đến bến bờ Tự Do an toàn. Nhờ đó, ngày nay đă có hơn ba triệu người Việt được sống đời an b́nh, thăng tiến tại hải ngoại. Và mai đây, sẽ có biết bao nhiêu người con ưu tú của Tổ quốc Việt thuộc thế hệ thứ hai, thứ ba trở về quê hương Việt không cộng sản, đem tài năng, kiến thức học được nơi xứ người để xây dựng nước Viêt nhanh chóng trở thành cường quốc.
Cá nhân tôi ngày rời xa quê hương, hành trang lên đường là ư chí của Tống Biệt Hành : "Ly khách! Ly khách! con đường nhỏ. Chí lớn không về, bàn tay không. Th́ không bao giờ nói trở lại...". Nên tôi cũng đang âm thầm hoạt động trong một tổ chức chính trị, với hoài băo được đóng góp tất cả tâm trí, tài sức vào công cuộc đấu tranh chung của toàn dân Việt trong và ngoài nước, nhằm xoá tan bóng tối đêm đen trên quê hương Việt Nam. Cho những đau thương, thù hận của một thời nô lệ ngoại bang sẽ bị nhạt nḥa, tiêu tán vào dĩ văng của lịch sử đă sang trang. Cho những xiềng xích, chuyên chế, hung tàn, bạo ác của cộng nô phải bị sụp đổ, tiêu vong. Cho viết lên trang sử mới của b́nh minh nước Việt ngày xanh tươi rạng rỡ, huy hoàng, kiến tạo nên một xă hội mới thật sự dân chủ, tự do, văn minh, nhân bản, công b́nh, bác ái để toàn dân Việt măi măi được sống an ḥa, vui sướng, hạnh phúc.
Kính nguyện cầu Đấng Thiên Thựợng Đế tối cao và Hồn thiêng sông núi phù hộ cho toàn dân Việt sớm có ngày "đắc lộ thanh vân", đưa nước Việt lên đỉnh đài vinh quang thịnh trị ngàn đời.
- Ghi dấu 30 năm rời xa quê hương:  1980  - 2010
HUYÊN CHƯƠNG QUƯ
(Trích sách “Khát Vọng Tự Do”)

 

Một Chuyến Về Lại Phan Rang  

HUYÊN CHƯƠNG QUÍ . Việt Báo Thứ Năm, 6/3/2010, 12:00:00 AM

Một Chuyến Về Lại Phan Rang

Tác giả: Huyên Chương Quí
Bài số 2908-28208-vb4060210

Tác giả đă nhận giải đặc biệt Viết Về Nước Mỹ 2009 với bài "T́nh Người", kể về một thời từng lỡ bước thành người homless tại San Francisco, với nhiều kinh nghiệm quí và chi tiết sống thực. Ông thuộc lớp tuổi trên 50, định cư tại Mỹ cuối tháng 4/ 1982. Hiện là cư dân quận Cam, làm nghề bảng hiệu. Sau khi tuyên thệ làm công dân Mỹ với tên mới là Khải Huy, tác giả đă có dịp về thăm lại quê nhà. Bài viê1át sau đây của ông gồm nhiều chi tiết vừa sống thực vừa hư cấu. Tên của hai nhân vật nữ trong truyện là tưởng tượng.

*

- Anh Hai ơi, mía ghim đi anh
- Chú. Chú mua giùm vài ổ bánh ḿ. Bánh ḿ Sài G̣n ngon lắm chú.
- Nước trà đá đi anh
- Chôm chôm đây... Cậu mua vài kư cho gia đ́nh nhen cậu
   Tôi cứ phải cười cười và lắc đầu trước những lời chào mời của nhiều người bán hàng rong đi qua lại ở ngoài cửa sổ xe. Yên yên chút lại có một cô bán sách lên tận xe mời tôi:
- Anh. Mua giúp vài cuốn sách nha anh. Không chờ tôi trả lời, cô ấn ngay vào tay tôi ba cuốn sách, nói tiếp: - Truyện t́nh của các tác giả ngoại quốc, hay lắm. Ngồi xe đường xa vời vợi, anh đọc sách sẽ qua nhanh thời giờ.
Thấy không thể từ chối, tôi chọn một cuốn:
- Cô bán sách nên nói chuyện có vẻ văn hoa quá ha. Một cuốn đủ rồi. Bao nhiêu vậy cô?
- Hai chục thôi
- Ủa, sao rẻ vậy? Cô giữ luôn tờ mười ngàn này đi.
- Hai chục là hai chục ngàn đó anh Hai. Người ḿnh bây giờ hay nói tắt vậy. Chắc anh là Việt kiều mới về lần đầu nên không biết phải hông?
- Vâng. Vậy mà tôi cứ tưởng rẻ quá. Thêm một tờ mười nữa đây. Cảm ơn cô.
- Tới giờ xe chạy rồi, xuống đi má non. Anh lơ xe đi tới vừa nói vừa bẹo vào má cô gái.
- Anh Chín sún, đừng chọc tui nhen. Tui về mét má cho coi. Cô bán sách cười cười rồi quay người đi ra cửa xe. Anh Chín nói vói theo:
- Má xấp nhỏ về lo cho mấy con ăn uống đàng hoàng, chờ tối anh về ấy ấy nhen
- Quỷ sứ anh...

  Xe đ̣ rời bến, chạy chầm chậm trong các khu phố quận Thủ Đức. Nhiều xe Honda chạy dọc, ngang trên các đường phố không theo một phép tắc nào. Thành phố h́nh như không có luật lệ giao thông?! Sống ở Mỹ nhiều năm, quen với luật lệ, trật tự rồi, giờ về lại quê hương, thấy cảnh xe cộ chạy loạn cào cào, tôi thấy chóng mặt. Lúc muốn đi bộ băng qua đường ở một ngă tư, tôi cũng thấy sợ sợ. Trời tháng sáu nóng bức. Ngồi trên xe chật chội hành khách, tôi càng bức rức, khó chịu. Anh Chín cho biết bốn giờ chiều mới tới Phan Rang. Tôi sẽ phải chịu đựng cái không khí ngột ngạt này hơn sáu tiếng đồng hồ !.
Qua khỏi cầu Sài G̣n, xe chạy nhanh hơn. Những cơn gió lùa vào xe, lướt trên mặt, thấy mát rượi. Tôi mở sách ra đọc. Không biết bao lâu, xe ngừng lại đón khách ở dọc đường. Anh Chín đưa một người đàn bà khoảng trên 50 tuổi đến bên hàng ghế tôi:
- Anh ngồi xích vào trong cho chị này ngồi với.
- Chổ chật thế này sao ngồi?! Người đàn bà nhăn nhó.
- Chỉ c̣n chổ này thôi. Trả tiền luôn đi chị. Ba chục.
- Sao ba chục? Mọi lần đi có hai chục. Tôi chỉ c̣n hai chục thôi.
- Xe nào lấy hai chục th́ chị chờ đi xe đó. Xe tôi ba chục.  
Người đàn bà đứng yên cầm tờ hai chục ngàn, gương mặt hiện lên nét khổ sở. Anh Chín lơ xe gắt gỏng:
- Không đủ tiền th́ xuống xe đi.
- Tôi trả tiền giùm cho chị.
Vừa nói, tôi vừa rút bóp lấy ba chục đưa cho anh Chín. Xe tiếp tục lăn bánh rồi vụt chạy nhanh trên quốc lộ. Người đàn bà ngồi xuống ghế, nói:
- Cảm ơn anh. Xin gửi lại anh hai chục
- Không có ǵ đâu. Chị cất lại tiền đi.
  Người đàn bà ngần ngừ một lúc rồi cất tờ hai chục vào túi, phân bua:
- Tôi cứ tưởng giá hai chục như mọi lần nên c̣n bao nhiêu tiền th́ cho đứa con gái hết, chỉ giữ lại bấy nhiêu đi xe thôi. May gặp anh tốt quá. Chắc anh là Việt kiều phải không?
- Sao chị đoán ra vậy?
- Th́ trông anh trắng trẻo, lại rộng răi. Người ở trong nước không ai tự dưng bỏ tiền giúp người khác vậy đâu.
- Cảm ơn chị. Nhưng tôi nghĩ, ở đâu cũng có người tốt, người xấu. Tại chị chưa gặp thôi. Khu này là đâu chị?
- Huyện Hàm Thuận Nam. Sắp tới Phan Thiết rồi. 
- Vậy là qua khỏi Xuân Lộc quá xa. Tôi măi đọc sách nên không để ư.
- Anh có ai ở Xuân Lộc?
- Mấy năm thời thiếu niên tôi sống với gia đ́nh chú thiếm ở Xuân Lộc. Giờ th́ c̣n mấy đứa cháu ở đó. Định đi Phan Rang thăm mộ ba má xong sẽ về thăm Xuân Lộc. 
- A...Tôi là dân Phan Rang nè. Anh sinh đẻ ở Phan Rang hả?
- Vâng. Phan Rang là quê hương có nhiều kỷ niệm tuổi thơ của tôi. Khi vào Sài G̣n ở, tôi có về thăm lại Phan Rang một lần năm 1974. Đến nay 24 năm rồi. Thấy nhớ quá, nên vừa về nước là tôi ra bến xe đi ngay chuyến xe này.
- Anh là dân vượt biên hay đi theo diện đoàn tụ?
- Tôi vượt biên đường bộ cuối năm 1980, vào Mỹ giữa năm 1982.
- Xa quê lâu quá th́ nhớ là phải rồi. Tôi mỗi tháng vào Hàm Thuận thăm con gái và cháu ngoại. Chơi với tụi nó một tuần, tôi đă thấy nhớ nhà ở Phan Rang. Thành ra cứ đi đi, về về vậy.
- Ai cũng có t́nh quê hương. Ở trong nước, dù sống nơi địa phương nào khác cũng luôn nhớ quê hương sinh đẻ. Tôi ở nước ngoài th́ nhớ tới hai quê hương. Nỗi nhớ nhân đôi.
- Quê hương nào mà tới hai?
- Một quê hương lớn là nước Việt. Trong quê hương lớn có quê hương "chôn nhau cắt rún" của ḿnh. Nhiều khi muốn hồi hương, nhưng...
Tôi định nói thêm: "v́ c̣n cái chế độ cộng sản gian ác này nên tôi không muốn về ở luôn". Nhưng kịp ngưng lại v́ đang trên xe đông người, lại không biết người đàn bà này thuộc diện dân nào. Rủi là người của Việt cộng th́ phiền lắm. Thấy tôi chợt lặng im không nói tiếp, người đàn bà nh́n qua tôi, mỉm cười:
 - Tôi biết anh đang nghĩ ǵ. Đừng lo. Rồi chị ghé gần tai tôi nói nhỏ: - Chồng tôi là sĩ quan chế độ cũ, bị chúng tù đầy đến chết. V́ chúng mà gia đ́nh tôi sống cơ cực từ tháng tư bảy lăm tới giờ. Tôi chán ghét cái tụi Việt cộng lắm rồi. Nhưng chẳng biết làm ǵ, phải rán mà sống, tới đâu hay tới đó.
 - Vậy, tôi yên tâm. Nếu có dịp gặp lại chị, chúng ta sẽ nói thêm. 
 - Vâng. Tôi tên Loan. Khi về tới Phan Rang, tôi đưa anh địa chỉ nhà, mời anh đến chơi.
 - Cảm ơn chị Loan.
Tôi mở sách đọc tiếp. Khoảng một tiếng sau, xe ngừng lại trước một dăy hàng quán ở ven đường. Tiếng anh Chín lơ xe:
 - Tới Phan Thiết rồi nhen. Tất cả mọi người đều phải xuống xe, vào quán ăn trưa. Nửa tiếng sau xe chạy tiếp.
Tôi mời chị Loan cùng vào tiệm ăn cơm trưa. Nhiều trẻ em mặt mày lem luốc trong những bộ quần áo rách rưới xúm quanh tôi xin tiền. Tôi cho mỗi em 20 ngàn. Có một anh mặc áo lính chế độ cũ, cụt một chân, chống nạn gỗ, đứng xa xa nh́n tôi. Tôi đi đến biếu anh tờ 100 ngàn. Tôi xót xa khi nh́n thấy cảnh bất hạnh của người dân nơi đây. Trong khả năng tôi hiện giờ chỉ giúp được vậy. Trở lại bàn, tôi và chị Loan chỉ kịp ăn nhanh nhanh cho xong bữa. Thấy anh Chín và tài xế ngồi bàn kế bên ăn xong là đi thẳng ra xe, tôi hỏi chị Loan:
 - Quư không thấy tài xế và lơ xe trả tiền ăn?
 - Họ được chủ tiệm biệt đăi. Tất cả quán cơm dọc quốc lộ này đều móc nối với các chủ xe. Xe đ̣ đem hành khách đến cho quán nào, th́ quán đó bao đăi cơm cho tài xế và lơ xe.
 - Cách làm ăn đôi bên cùng có lợi.
 - Người Việt ḿnh nhiều mánh lới lắm. Dân thường với nhau là như vậy. C̣n nạn hối lộ, tham nhũng trong chính quyền với dân đă thành bệnh dịch tràn lan cả nước, từ trung ương đến địa phương. Lớn ăn theo lớn, nhỏ ăn theo nhỏ. Hết thuốc chữa !
 - Nước Việt ḿnh không khá nỗi khi c̣n cái chế độ Việt cộng này. Quư ở nước ngoài nhưng ḷng lúc nào cũng nghĩ đến quê hương. Nh́n đám trẻ em ăn xin vừa rồi, Quư thấy tội nghiệp quá. Ở bên Mỹ, tất cả trẻ em được coi trọng và được chính phủ cấp dưỡng cho ăn học đến năm 18 tuổi. 
Có tiếng anh Chín báo xe sắp chạy. Tôi và chị Loan cùng hành khách lục tục lên xe. Chiếc xe lại chạy bon bon trên quốc lộ. Chị Loan nh́n qua tôi:
 - Cảm ơn anh nhiều lắm. Anh trả tiền xe cho tôi c̣n đăi tôi ăn. Khi đến nhà tôi chơi, cho tôi được đăi lại anh nhé.
 - Cảm ơn chị. Quư rất vui được quen một đồng hương Phan Rang như chị, có cùng Quư mối đồng cảm  về thời thế. Quư 44 tuổi, chắc nhỏ hơn chị Loan. Gọi Quư bằng tên đi.
 - Vâng. Quư có biết Ninh Chữ không? Quê tổng thống Thiệu đó.
 - Hồi nhỏ Quư có đi theo gia đ́nh má nuôi tắm biển Ninh Chữ vài lần. Chị Loan ở đó hả.?
 - Vâng. Tôi đang sống với má và đứa con gái út. Nhà chỉ có ba phụ nữ.
Tôi cười cười:
 - Là âm thịnh dương suy.
Chị Loan cười khúc khích sau câu đùa của tôi rồi hỏi: 
 - Quư c̣n ai ở Phan Rang?
 - Tất cả người thân ruột thịt của Quư đều mất hết trong chiến tranh. Chỉ c̣n vài người quen biết thời nhỏ. Quư về thăm mộ ba má là chính, và muốn nh́n lại những đường phố, mái trường xưa. Nhất là thăm làng Tấn Tài B, nơi Quư được sinh ra.
 - Ô... Làng Tấn Tài B hả? Thời con gái c̣n đi học, tôi nhiều lần đến Tấn Tài B lắm.
 - Chị có ai quen trong làng?
 - Những người bạn thân của tôi cùng học trường Duy Tân niên khóa 1963   1964.
 - Thời gian đó, Quư có tên thường gọi là Chít, sống với má nuôi là cô Ba T́nh. Chị có biết má nuôi của Quư không?
Chị Loan quay qua nh́n tôi chăm chú rồi lẩm bẩm "Trời ơi.. Trời!..." Tôi ngạc nhiên hỏi:
 - Sao thế chị? Mặt Quư có lọ nghẹ hở?
 - Quư ! Phải cô Ba T́nh sản xuất nước mắm và nhà có vườn rất rộng ở cuối làng?
Không đợi tôi kịp trả lời, chị Loan hỏi tiếp:
 - Cô Ba T́nh có người con trai út tên Thành, đúng không? Có phải thời gian 1963, 1964, nhà cô Ba T́nh có hai thanh niên khác tên là Khánh và Sinh ở trọ không?  
Đến lượt tôi nh́n chị chăm chăm:
 - Vâng. Hồi đó anh Thành và anh Khánh thương Quư lắm. Nhất là anh Khánh, thường chở Quư đi ăn tối, đi hội chợ đêm, đi xem lễ Phật đản. Mà...chị là ai lại biết rơ gia đ́nh má nuôi Quư vậy?
 - Quư không nhớ ra chị Loan sao? Chị thường hay đến nhà cô Ba T́nh thăm các bạn học là Khánh, Thành, Sinh. Những khi anh Khánh chở Quư đi ăn tối, thường hẹn gặp chị cùng đi ăn luôn. Nhớ không?
 - A...Chị...chị Loan !... Tôi bật kêu lên rồi nắm chặt bàn tay chị, nói tiếp: - Em nhớ rồi. Chị là người yêu của anh Khánh. Hồi đó, chị Loan cũng thương em lắm, mỗi khi đến nhà thăm anh Khánh, chị thường đem quà cho em.
Chị Loan nhoẽn miệng cười:
 - Thiệt là trái đất tṛn. Đi đâu rồi cũng gặp nhau đây.
 - Em mừng quá. Mừng như được gặp lại chị ruột của em. Cũng 34 năm rồi hở chị.
 - Ngồi bên nhau từ sáng đến giờ mới nhận ra người thân.
 - Em nhớ hồi trẻ chị đẹp lắm.
 - Bây giờ chị già rồi. C̣n đâu thời học tṛ son trẻ
 - Chị khoảng 51 hay 52 tuổi thôi mà. Vẫn c̣n nét đẹp.
 - Đẹp lăo... Chị Loan cười khúc khích sau khi đùa rồi nói tiếp: - Hồi đó, Quư mới chín, mười tuổi. Trông dễ thương lắm. Tên Chít nghe cũng ngộ ngộ.
 - Em thấy bồi hồi khi nhắc lại tên Chít thời nhỏ của ḿnh. Tuổi hoa niên bao giờ cũng tràn ngập những t́nh thương của người lớn dành cho. Ước ǵ được sống lại thời thơ ấu hở chị.
 - Chị nhớ mỗi khi thấy chị đến nhà, Chít thường chạy đến ôm lấy chị.
 - Phải nịnh chị vậy mới có quà chớ. Vậy, người chồng sĩ quan đă mất của chị là anh Khánh sao?
 - Hổng phải. Là người khác. C̣n anh Khánh là mối t́nh đầu thời học tṛ của chị. Năm đó, chị và anh Khánh cùng học lớp 12 Duy Tân. Chị yêu ảnh v́ tánh hiền hậu, hay thương người của ảnh.
 - Anh Khánh tốt thiệt đó. Ảnh thấy em mồ côi nên rất thương em, ngoài chuyện hay chở em đi chơi tối, ảnh c̣n cho em nhiều sách vở và tiền tiêu vặt trong năm em học lớp ba trường tiểu học Phan Rang. Chị yêu ảnh vậy sao không lấy ảnh.?
 - V́ tánh tốt của ảnh nên nhiều cô cùng trường đeo theo ảnh. Biết ảnh thật t́nh yêu chị, nhưng chị lại hay ghen. Mỗi khi thấy ảnh giúp đỡ một cô bạn học nào chuyện ǵ đó là chị nổi cơn, giận ảnh suốt cả tuần không nói chuyện. Hết giận rồi ḥa. Ḥa rồi lại giận. Cứ vậy. T́nh yêu mà hay ghen hờn, cải lẫy th́ không bền đâu.
 - Rồi chia tay hở chị? Vào lúc nào?
 - Ảnh rất ch́u chị. Nhưng với tánh xấu của chị th́ có là Thánh cũng không chịu nổi. Đến cuối niên học, chị với ảnh cải nhau to tiếng lắm. Chị tức giận nằm nhà, bỏ cả việc thi cử. Ảnh thi đậu Tú Tài xong, có đến nhà thăm chị, năn nỉ chị quay lại với ảnh. Chị không chịu. Ảnh buồn, bỏ vào Sài G̣n. Chị nghe lời mẹ, đi lấy chồng.
- Chị sống với chồng có hạnh phúc không?
- Mới đầu, v́ giận anh Khánh mà lấy chồng theo mối mai nên chị không thấy yêu chồng. Một, hai năm sau, chị mới yêu. Ảnh cũng tốt như Khánh, lại c̣n là một sĩ quan can trường, dũng cảm. Lấy chồng là chiến binh luôn xông pha chiến trường, thời gian được gần nhau không nhiều, nên chẳng mấy khi có chuyện để giận với hờn. Nói chung, chuyện vợ chồng, ai cũng có lúc vui vẻ, lúc cắn đắng nhau. Biết thương yêu, nhường nhịn nhau th́ có hạnh phúc. Gia ḥa vạn sự yên.
 - Không biết hiện nay anh Khánh ở đâu để em đi thăm ảnh.
 - Từ ngày ảnh vào Sài G̣n th́ chị không biết tin tức ảnh nữa. Thời loạn ly, chắc ảnh phải vào lính như bao đời trai khác, không biết c̣n sống hay chết rồi. Nếu c̣n sống, biết đâu ảnh cũng đang ở Mỹ như Quư.
 - Hy vọng vậy. Khi trở lại Mỹ, em sẽ đăng báo t́m ảnh. Nhắc đến anh Khánh, em cũng nhớ anh Thành nữa. Ảnh không may, đă hy sinh v́ đất nước khi tuổi c̣n quá trẻ.
 - Ngày nghe tin Thành tử trận, chị khóc quá chừng. Khánh, Thành, Sinh... những bạn thân thiết thời học tṛ của chị, mỗi người một hoàn cảnh xa chị biền biệt. Rồi cả người chồng thân yêu cũng bỏ chị mà về với cát bụi. Giọng chị Loan trở nên nghẹn ngào: - Chồng chị kiêu hùng lắm. Trong tù, ảnh luôn chống lại tụi quản giáo nên cứ bị biệt giam, tay chân bị cùm hết. Sau bảy năm bị hành hạ, ảnh bệnh nặng, chúng không chữa trị, để cho ảnh chết dần trong pḥng tối.
Tôi nắm chặt tay chị Loan khi thấy mắt chị có ngấn lệ. Chị im lặng một hồi lâu rồi khẻ nói:
- Tất cả là quá khứ xa lắc lơ, nhưng nhắc lại thấy nhớ họ quá. Buồn quá Quư ơi. 
- Em cũng buồn như chị. Đất nước điêu linh v́ chiến tranh, con người sống trong sinh ly, tử biệt hàng ngày. Cả những ngựi thân ruột thịt của em cũng đă mất hết rồi!... Thôi, ḿnh đừng nói chuyện buồn trên xe nữa. Nhắm mắt thư giăn chút đi chị...
 Khoảng bốn giờ rưởi, xe chạy qua cầu Đạo Long. Phan Rang đă hiện ra trước mắt tôi với hai dăy phố chạy dài ở hai bên con đường huyết mạch dẫn vào thị xă. Tôi thấy bồi hồi trong ḷng. Dù chỉ c̣n một thân, một ḿnh, tôi vẫn có cái cảm giác của một người đi xa nhiều năm về nhà gặp lại người thân. Xe ngừng lại ở ngă ba gần cầu. Tiếng anh Chín lơ xe:
- Ai xuống đây th́ xuống nhen.
- Ủa, bến xe đây hở chị?  Tôi hỏi chị Loan
- Chưa. C̣n chạy vô trong nữa. Chị Loan vừa ngáp vừa trả lời. Tôi chỉ tay về hướng rạp hát:
- Rạp hát Thanh B́nh vẫn c̣n kia. Hồi bảy tuổi, em thường leo lên cửa sắt tuốt trên cao để xem "cọp" cải lương. Nh́n thấy lại Phan Rang em vui quá chị Loan ơi.
Xe chạy tiếp nhưng không chạy theo con đường chính thị xă mà quẹo phải chạy về hướng Tấn Tài B. Chị Loan cho biết đường này là Ngô gia Tự, mới mở mấy năm nay, kéo dài tới bến xe. Những ngôi nhà trông rất khang trang nối tiếp nhau ở hai bên đường. Mọi cảnh vật đă thay đổi rất nhiều. C̣n đâu cảnh cũ, những mái nhà xưa ! Mười lăm phút sau, xe tới bến. Tôi mời chị Loan đi ăn nhưng chị nói phải lo đón xe về Ninh Chữ. Chị viết địa chỉ nhà cho tôi và dặn ngày mốt đến chơi, chị sẽ đăi các món đặc sản biển.
 Từ giă chị Loan, tôi kéo vali t́m một khách sạn gần bến xe. Giá pḥng khá rẻ, 20 đô một ngày. Tắm, rồi ngủ một giấc bù đường xa mệt mơi, tôi thức dậy lúc trời đă tối. Ra khỏi khách sạn, tôi đi bộ dọc theo con đường chính thị xă, giờ có tên đại lộ Thống Nhất. Xe cộ chạy tấp nập trên đường. Hàng quán, cửa tiệm san sát hai bên đường vẫn c̣n mở cửa. Đèn chớp chớp đủ màu cùng tiếng nhạc xập x́nh ở các tiệm bán đồ điện tử, nhà hàng, quán cà phê, thật vui mắt, vui tai. Phan Rang tôi đây, có vẻ phồn hoa, đô hội hơn xưa nhiều. Hồn tôi lâng lâng. Người tôi nhẹ hẫng. Tôi bước đi như bay bay. Ngang qua trường tiểu học Phan Rang, tôi dừng lại, nh́n măi vào ngôi trường trước mặt. H́nh như có bóng dáng chị Mùi thân yêu dẫn tôi đến trường ngày mới nhập học, hay ngày tôi được lănh thưởng cuối năm. Thày Chuyên vui vẻ, cô Năm nghiêm khắc, cô Trừ hiền hậu, bạn Dũng, bạn Vọng cùng tôi chơi bắn bi, tạt bao thuốc... tất cả như đang đứng trong sân trường chào đón tôi. Biết bao nhiêu h́nh ảnh thời học tṛ thơ dại hiện lên trong đầu. Hơn tiếng đồng hồ sau, tôi mới chậm răi bước đi về hướng chợ. 
Quảng trường Phan Rang gần bên chợ vẫn là nơi ăn đêm của nhiều người như ngày tôi tuổi nhỏ. Người đứng, ngồi lố nhố bên các hàng bún, phở, hủ tiếu, bánh xèo, cháo ḷng, cháo vịt, xe chè, xe trái cây...Thấp thoáng như có anh Phùng, anh Thiện ruột thịt của tôi đang ở trong đám người. Hồi tôi sáu, bảy tuổi, thường được hai anh dẫn đi ăn nơi này. Cảnh cũ đây, người xưa mất rồi !...Ngẩn ngơ một lúc, tôi ngồi thụt xuống trước hàng cháo vịt...
Ăn no, uống say, về lại khách sạn, tôi ngủ luôn một giấc tới chín giờ sáng hôm sau. Hôm nay, việc chính là thăm mộ ba, má. Tôi bao xe xích lô trọn ngày giá 60 ngàn. Người đạp xích lô là một cậu trai khoảng 16 tuổi. Vài người xích lô khác x́ xầm: " Thằng Tâm trúng mánh rồi, được trả bằng hai ngày nó đạp ră cẳng". Tôi suy ra, mỗi ngày, dân xích lô chỉ kiếm được khoảng 30 ngàn; chỉ bằng hai đô. Trong khi người lao động tại Mỹ, lương thấp nhất cũng phải 50 đô một ngày. Thiệt tội cho người dân Việt ! Mua trái cây, nhang, đèn tại chợ xong, Tâm chở tôi đến nghĩa trang Phật giáo. Tôi hồi hộp. Đă 36 năm rồi, không biết mộ má c̣n không? Tôi vừa chạy tứ tung trong nghĩa trang đầy cỏ dại, vừa khấn lầm thầm: "Má ơi, má...Má ơi...Má linh thiêng chỉ cho con thấy mộ má... Má ơi, má...". May quá, tôi t́m ra mộ má. Tấm bia c̣n nguyên vẹn với những hàng chữ c̣n rơ nét: Nguyễn Thị Ngọ, sinh 1918, mất ngày 12 / 7 âm lịch, 1962. Trưởng nữ Lư Thị Mùi xây mộ. Tôi mừng chảy nước mắt. H́nh ảnh mẹ hiền như hiện ra trước mặt. Tôi quỳ sụp xuống khóc sụt sùi bên mộ má.
 Bày trái cây, đốt đèn cày, thắp nhang cúng má xong, tôi bứng sạch tất cả cỏ dại xung quanh mộ. Tâm cũng giúp tôi một tay. Ngồi trầm tư hơn tiếng nữa, tôi quỳ lạy trước mộ má lần cuối rồi vào chùa thắp nhang kính Phật, và kính biếu Sư trụ tŕ 300 ngàn. Rời nghĩa trang, trời đă trưa. Nắng chói chang, nóng như đổ lửa. Tôi đăi Tâm ăn cơm, rồi nhờ Tâm chở đi t́m mộ ba. Trong trí tôi c̣n hiện rơ h́nh ảnh ngôi mộ ba trên một khu đất cao ở đồng cỏ hoang, gần làng Tấn Tài B. Nhưng vật đổi, sao dời, cánh đồng hoang bây giờ trở thành khu dân cư đông đúc nhà cửa. T́m đâu ra mộ ba?! May ra anh Hùng, anh Dũng ở làng Tấn Tài B biết dấu tích mộ ba. Tâm lại chở tôi về đầu làng. Trả tiền và cảm ơn Tâm xong, tôi lững thững đi đến góc đường Cái quan và Ngô gia Tự. Ngày xưa, mỗi sáng, tôi hay ra ngồi chồm hổm ăn bánh căn ở nơi này. Món bánh đổ bằng bột gạo trắng. Rất đơn giản nhưng ăn lúc nóng với nước cá hay mắm nêm rất ngon.
Đi lần vào trong làng, tim tôi đập th́nh thịch. Làng quê tôi đây, nơi tôi đă cất tiếng khóc chào đời, cảnh vật không thay đổi mấy. Ngôi chùa giữa làng trông bề thế, uy nghi hơn. Hồi tôi sáu tuổi, ba mất, má mang nợ nần phải bán nhà rồi đưa sáu má con vào tá túc trong gian nhà tranh dột nát sau chùa. Mỗi khi mưa lớn, má và các anh, chị, em, tôi phải ngồi túm tụm lại một góc nhà v́ nước mưa tuôn xối xả xuống giữa nhà. Tôi đứng tần ngần một hồi rồi lại lững thững đi tiếp. Bên phải, nhà chú Tư. Bên trái, nhà bác Năm. Tôi muốn đi thăm nhà má nuôi trước, nhưng nhớ ra má nuôi và anh Thành đă mất, chị Hương ở Úc, có đến cũng chỉ là người xa lạ, nên tôi đi vào nhà bác Năm.
Tháng 4 / 1975, anh Hùng, anh Dũng có gặp tôi tại nhà anh chị Hồ Đấu ở cư xá Hải quân Cửu Long, Thị Nghè. Hai anh vẫn c̣n nhớ mặt tôi. Chúng tôi tay bắt, mặt mừng. Chờ tôi thắp nhang cho bác Năm xong, anh Hùng giới thiệu tôi với vợ con của anh. Chuyện tṛ râm ran khoảng tiếng, tôi hỏi hai anh chuyện t́m mộ ba tôi. May, anh Dũng biết chổ mộ mới ba tôi. Khi người ta cất nhà, đă dời mộ ba ra khu nghĩa địa Cà Đú, cách thị xă khoảng năm cây số. Tôi thuê hai Honda ôm chở tôi và anh Dũng đi mua trái cây, nhang, đèn rồi chạy thẳng ra Cà Đú.
Mộ mới của ba được đắp đất cao, gần núi. Thấy mộ ba đơn sơ, lạnh lẽo giữa nghĩa địa hoang vu, ḷng tôi quặn thắt. Nh́n tấm bia ghi rơ tên ba: Lư Thúc Huyên, sinh năm 1899, mất ngày 2 / 11 âm lịch, 1960, nước mắt tôi ràn rụa. Tôi bày lễ vật, thắp nhang, quỳ lạy trước mộ ba thật lâu. Tôi nguyện hứa, có dịp về lần sau, tôi sẽ xây mộ ba cho đẹp như mộ má. Trời đă về chiều, mặt trời dần khuất sau đỉnh núi. Tôi quỳ lạy lần nữa trước mộ ba rồi ngậm ngùi rời nghĩa địa, cùng anh Dũng về lại thị xă.
Ngày hôm sau, tôi đi Ninh Chữ thăm chị Loan. Nhà chị vách ván, mái tôn trong một khu b́nh dân gần biển. Khí hậu buổi trưa nhờ gió biển nên khá mát mẻ. Cửa nhà mở sẵn, đứng bên ngoài tôi đă nh́n thấy hai người phụ nữ đang ngồi trên bộ ván kế bên cái bàn gỗ. Một người là chị Loan. Chị vội đứng dậy ra đón tôi:
 - Chị chờ từ sáng đến giờ. Vào nhà ngay em. Thức ăn đă làm sẵn hết chờ khách quư.
Tôi cười cười bước vào nhà:
 - Em là dân kỳ long nhong có ǵ mà quư hở chị.
 - Th́ em tên Quư mà. Bậc cha mẹ đặt tên thế nào là mong con ḿnh được như vậy... Quỳnh ơi, khách quư đă tới, lo dọn thức ăn đi cháu.
Người phụ nữ trẻ dạ một tiếng rồi đứng dậy cúi đầu chào tôi. Chị Loan giới thiệu hai bên:
 - Đây là Quư, mợ đă nói với cháu sáng giờ... C̣n đây là Quỳnh, cháu chồng của chị.
 - Hân hạnh được biết cô Quỳnh.
Quỳnh nhoẽn miệng cười rồi đi xuống bếp. Quỳnh có khuôn mặt chữ điền xinh xắn, đôi mắt lá răm rất đẹp, và dáng vóc mảnh mai, thon thả. Nh́n Quỳnh, tôi có cảm giác như đă quen ở đâu. Tôi hỏi chị Loan:
 - Quỳnh có gia đ́nh chưa?
Chị Loan mỉm cười:
 - Chưa có ai lọt vào mắt xanh của "nàng".
 - Cổ đang ở đâu?
 - Nó là giáo sư lớp 11 ở Đà Lạt. Nhân dịp nghỉ hè xuống chơi với chị mấy hôm nay.
 - C̣n bác và con gái út của chị?
 - Má chị đi thăm bà con ở Tháp Chàm. Con gái út đi chơi với bạn rồi. Quư uống bia nhen. Chị đă mua sẵn mấy chai để đăi Quư, chứ nhà đàn bà không, hổng ai biết uống bia.
 - Dạ. Nếu chị đă mua rồi th́ em không khách sáo.
Nh́n cảnh nhà đơn sơ, tôi biết chị Loan nghèo, nhưng thức ăn chị đăi tôi thật thịnh soạn: tôm hấp, cua luộc, cá chiên sốt chua ngọt. Cả ba người cùng ngồi vào bàn. Tôi cảm động nói:
 - Chị đăi em các món này, tốn tiền chị lắm. Một món thôi, cũng đủ rồi. 
Chị Loan cười:
 - Phải ăn mừng chứ em. Đâu dễ ǵ có kỳ ngộ với em... Quỳnh ơi, mợ không uống bia được, cháu c̣n trẻ, tiếp một chai với Quư đi.
 - Phải đó. Tôi uống bia một ḿnh không thú vị. Cô Quỳnh cùng uống với tôi nhé.
 - Dạ. Em cũng phải ch́u ư anh với mợ cho vui. Nhưng chỉ rán được một chai thôi. C̣n bao nhiêu anh Quư phải thầu hết.
 - Vâng. Cụng ! Mừng ngày gặp lại chị Loan. Mừng được quen cô Quỳnh.
- Mời Quư.
- Mời anh.
  Chị Loan và Quỳnh liên tục tiếp thức ăn cho tôi. Không khí bửa ăn thật thân vui. Chúng tôi nói đủ thứ chuyện về cuộc sống của mỗi người. Đến khi nghe chị Loan cho biết tên họ đầy đủ của Quỳnh, tôi như muốn nhảy cẫng cả người lên:
 - Uyên Diễm Quỳnh ! Trời!. Là Uyên Diễm Quỳnh thiệt sao?
Quỳnh mở to mắt nh́n, ngạc nhiên:
 - Sao thế anh? Em có ǵ đắc tội với nhà nước hở?
 - Không phải với nhà nước mà với tôi.
 - Ủa. Năy giờ nói chuyện thân vui, có ǵ đắc tội với anh?
Tôi không trả lời ngay câu hỏi của Quỳnh mà nói một hơi:
 - Tên Uyên Diễm Quỳnh đặc biệt lắm, không lầm được. Không có người thứ hai có tên này. Má Quỳnh là Lê thị Ngọc. Ba là trung tá Uyên văn Cảnh. Nhà Quỳnh ở Đà Lạt trước tháng 4 / 1975 là căn biệt thự trên đồi cao phía trước có vườn hoa hồng rất đẹp. Đúng không?
Quỳnh càng mở to mắt hơn:
 - Đúng. Đúng hết. Sao anh biết rơ vậy?
Tôi reo lên:
 - Là em rồi, Diễm Quỳnh ! Bất giác tôi nắm chặt bàn tay Quỳnh, nói tiếp: - Anh là anh Quư quen em vào mùa hè 1973. Em nhờ anh ngắt cho em mấy nhánh hoa Dă quỳ lúc cùng anh đi lên đồi thông, rồi dẫn anh đến làm quen với má em. Sau đó, chúng ta đi ăn phở buổi trưa ở chợ Ḥa B́nh, rồi má em mời anh đến nhà chơi, c̣n đăi anh ăn cơm chiều nữa. Em nhớ không?
Nói xong, tôi chợt nhận ra ḿnh đang nắm tay Quỳnh, nên vội buông ra. Quỳnh nh́n tôi, có vẻ thẹn thùng:
- Không ngờ... là anh Quư!... Rồi cô mỉm cười, quay qua chị Loan: - Mợ, cháu nhớ hồi đó lúc hái hoa cho cháu, ảnh gọi cháu là "em bé" đó.
  Tôi cười ha hả:
- Ai lúc c̣n nhỏ cũng đều muốn làm người lớn. Bị gọi "em bé" hổng chịu, đi mét mẹ, bây giờ c̣n mét lại với chị Loan.
Chị Loan cười tươi, nói với Quỳnh:
- Năm đó, cháu mới bảy tuổi, c̣n Quư là thanh niên. Gọi cháu là "em bé" phải rồi. Mợ không ngờ, mợ cháu ḿnh với Quư có duyên tái ngộ lạ lùng.  
Quỳnh thắc mắc:
- Vừa rồi biết tên em, anh nói em đắc tội với anh là tội ǵ?
- V́ hồi đó Quỳnh hứa khi cùng với má đi Sài G̣n đón ba từ Mỹ về sẽ ghé thăm anh, nhưng rồi "bặt vô âm tín".
- Th́ ra thế. Tại ba hối má con em về lại Đà Lạt ngay để ba tŕnh diện đơn vị. Anh cũng có tội với em vậy.
- Tội ǵ?
- Anh nói sẽ quay lại năm sau để cùng em ngắm cảnh đẹp mùa thu Đà Lạt. Mà có thấy đâu.
- A... Anh nhớ rồi. Thiệt đắc tội. Bây giờ xin lỗi em cũng không muộn. Đời sống vô thường, nhiều chuyện nói trước thiệt không linh. Cũng như có ai ngờ, miền Nam binh hùng, tướng mạnh thế lại bị Việt cộng nó chiếm mất. Chỉ v́ người Mỹ nửa chừng quay lưng, cắt đứt mọi viện trợ cho miền Nam để xơi tái miếng thịt thị trường béo bở của Tàu cộng.
Sau vài phút vui mừng gặp lại "em bé" Quỳnh, câu nói của tôi vô t́nh xoay qua đề tài chính trị. Quỳnh nói với giọng buồn:
 - Cũng v́ vậy mà biết bao gia đ́nh ở miền Nam nhà tan, cửa nát. Gia đ́nh mợ Loan đang sống khá giả trở nên suy sụp. Chồng mợ là cậu của em chết trong tù. C̣n ba má em, anh biết rồi đó, là gia đ́nh giàu có, đời sống thật yên vui. Dưng đâu tai họa ập đến, Việt cộng vào lấy hết nhà cửa, má con em phải sống nghèo ở khu "kinh tế mới". Ba em sau chín năm tù "cải tạo"về, cũng bệnh hoạn rồi chết trong buồn tủi.
Chị Loan chép miệng, nói:
- Chúng gọi tiếng là "cải tạo" cho hoa mỹ, thật ra chỉ là cách trả thù hèn mọn. Nói ǵ sĩ quan bị tù đày, cả văn nghệ sĩ, tu sĩ cũng bị chúng bắt đi tù không biết ngày về. Người dân làm ăn lương thiện tạo nên tài sản cũng bị chúng chiếm đoạt hết. Bây giờ, bọn "cán cộng", tên nào cũng giàu sụ nhờ ăn cướp của dân.
  Quỳnh tiếp lời chị Loan:
- Việt cộng giàu lên thành "tư bản đỏ"; người dân th́ lần lần chỉ c̣n cái quần xà lỏn rách. Cái chế độ quốc doanh, bao cấp của chúng làm cho kinh tế nước nhà suy kiệt. Hơn mười năm qua mở cửa cho thị trường tự do, nhưng đất nước chẳng khá được bao nhiêu.
Tôi tiếp lời Quỳnh:
- Theo thống kê Liên hiệp quốc, Việt Nam vẫn c̣n là một trong vài nước nghèo nhất thế giới. Nhiều năm qua, đọc tin trên báo, anh biết đại đa số người dân trong nước vẫn đang phải cam chịu kiếp sống cơ hàn, đói khổ. Bây giờ về, anh thấy rơ thêm, địa phương nào cũng có từng đàn trẻ em không được học hành, phải lang thang bán vé số hay ăn xin sống qua ngày. Người già neo đơn ngủ đầu đường, xó chợ đầy dăy ra đó. Nhiều con gái nhà nghèo đua nhau xếp hàng làm dâu Đài Loan, dù là phải lấy những ông già ế vợ hay tàn tật, c̣n bị khinh rẽ, thậm chí bị anh em trong nhà chồng cưỡng hiếp rồi bán cho động măi dâm. Đường xá, cầu cống trong nước hư nát hết không được sửa sang, xây dựng lại. V́ "cán cộng" chỉ lo tham ô làm giàu cho cá nhân và gia đ́nh. Chúng là băng đảng tội ác chứ không phải là một chính quyền lo cho quyền lợi quốc gia, dân tộc.
Chị Loan thở dài:
- Nhiều khi chị muốn chạy ra đường hét to lên: "Tất cả dân nghèo đoàn kết lại, vùng lên làm cách mạng, đánh đổ tụi Việt cộng ác ôn đi". Nhưng rồi chị không có can đảm. Chị cũng yếu đuối như mọi người dân. Lại cũng phải giả vờ cười cười, nói nói những lời tốt đẹp khi có chuyện tiếp xúc với "cán cộng".
- Vâng. Lúc em c̣n ở trong nước, cũng như chị Loan thôi. Thời thế đổi thay, con người tự vong thân với chính ḿnh khi phải sống trong gian dối, trong sự ức chế, đè nén bản ngă của ḿnh chỉ v́ cái cuồng ngông, bạo ác của thế lực phi nhân phủ chụp lên đầu ḿnh !.
Chị Loan lại thở dài:
- Chị ước ǵ được vượt thoát ra khỏi cái ḍng xoáy nghiệt ngă này. Được như Quư vầy là may phước lắm. Chị có mấy lần ra đi, nhưng không thành. Vàng bạc dần cạn, đành chịu an phận với số mạng. 
Cả ba người chúng tôi cùng nh́n nhau, cảm thông cho nỗi niềm của nhau. Im lặng hồi lâu, Diễm Quỳnh tỉ tê kể chuyện:
- Trường em dạy hiện nay cách nhà em ở Đà Lạt mấy chục cây số. Vừa rồi, em dự tính xin chuyển về dạy ở thành phố. Mười mấy năm qua em không nghĩ tới điều này. Nhưng nay có người anh của cô bạn hứa giúp. Em hy vọng nhiều lắm. Nhưng khi vô cuộc rồi, em nhận ra thực tế, ḿnh không phải là ruột thịt, và người anh của bạn em cũng không trực tiếp quyết định mà phải nhờ người khác. Thường th́ có hai con đường để giải quyết chuyện ǵ đó trong chế độ này: Thứ nhất là "thân quen", thứ hai là "tiền". Muốn theo con đường tiền th́ cũng phải có người quen lo giúp mới đúng đường. Trước đây, em quan niệm nếu phải "đút lót" để xin chuyển trường, em sẽ không làm như vậy. Nhưng bây giờ thấy người anh cô bạn nhiệt t́nh muốn giúp, em cũng thử coi. Tuần trước, em ghé nhà một chị bạn để tâm sự việc này. Chị cho biết chắc chắn, muốn xin chuyển về Đà Lạt phải tốn từ 25 đến 45 triệu đồng, và phải do thân quen lắm mới được; có khi c̣n "tiền mất, tật mang". Em lúc đó như bừng tỉnh, thấy rơ sự bất công, phi lư và đành chịu "thua cuộc". Em chỉ là cô giáo nghèo, làm sao có tiền nhiều như vậy!...Quỳnh chợt im lặng một lúc, uống ngụm nước rồi nói tiếp với giọng buồn buồn: - Thật ra, chuyện đút lót số tiền có khi lớn gấp nhiều lần như vậy em đă biết từ lâu. Nhưng vừa rồi em như người ngủ mơ, trong mơ thấy ḿnh loay hoay xin chuyển trường, và chợt tỉnh giấc th́ giấc mơ không c̣n!...Có mấy chục triệu người trong nước hiện nay ở mọi ngành nghề cũng sống trong mơ và tan vỡ giấc mơ như em vậy !...
  Nghe xong tâm sự của Quỳnh, tôi đă ngà ngà say nên bạo dạn nắm tay Quỳnh, quên là đang có chị Loan bên cạnh. Tôi nói trong xúc động:
- Diễm Quỳnh. Nghe tâm sự buồn của em, anh...anh thương em lắm...
Quỳnh để yên bàn tay cô cho tôi nắm, im lặng nh́n tôi với ánh mắt long lanh... 
 Một chuyến về lại Phan Rang, ngoài việc thăm mộ ba má, tôi có được t́nh yêu với Diễm Quỳnh. Trong những ngày đi chơi vui vẻ bên nhau, tâm đầu, ư hợp, dù không hứa hẹn ǵ, nhưng ḷng tôi đă quyết, Quỳnh sẽ là người vợ để tôi yêu thương, trân trọng suốt đời.
Tôi sẽ về Việt Nam lần nữa để gặp má Quỳnh xin làm đám cưới với Quỳnh. Nhưng chuyện đời không như là mơ. Ngày  trở lại Mỹ, tôi viết thư cầu hôn Quỳnh th́ nhận được thư hồi âm của cô cho biết, cô tuy rất yêu tôi nhưng không thể lấy tôi để rồi phải đi Mỹ, v́ má cô hay bệnh hoạn ở tuổi già, cần có cô bên cạnh chăm sóc.
Và rồi ngày tháng dần trôi qua. Biết bao nhiêu đổi thay. Cho tới nay, tôi vẫn chưa thể gặp lại Quỳnh. Cả lời nguyện hứa sẽ xây lại mộ ba cho đẹp, tôi cũng chưa thể làm được. Nhưng tôi tin, mọi nhân quả đều có báo ứng theo luật Trời. Cái "thiện" được tôn vinh. Cái "ác" sẽ bị tiêu diệt. Sẽ có một ngày quê hương được hoàn toàn tự do, cho toàn dân Việt đều được sống trong một xă hội an b́nh, công bằng, bác ái. Đó cũng là niềm vui, hạnh phúc cho chính tôi, khi những ư nguyện riêng tư được thành toàn, viên măn bên người tôi yêu thương: Uyên Diễm Quỳnh ! 

 

Huyên Chương Quư