ÁNH SÁNG MỚI 2015 ONLINE
TIN TỨC THỜI SỰ CHÍNH TRỊ - TÀI LIỆU TỔNG HỢP 8
anhsangmoi2015.com
anhsangmoi2015.org
----------------------------------------------------------------------------------------------------
HỘI QUỐC TẾ NGHIÊN CỨU VỀ BIỂN ĐÔNG NAM Á
TÂM THƯ GỬI ĐỒNG BÀO QUỐC NỘI VÀ HẢI NGOẠI
Kính thưa Đồng Bào quốc nội và Hải ngọai.
Đất nước Việt Nam của chúng ta đang đứng bên bờ vực thẳm của suy vong, nguy cơ mất nước cận kề. Trong lịch sử Việt, chưa có một triều đại nào lại cam tâm bán nước như nhà cầm quyền CS hiện nay. Đây là thời kỳ đau thương ô nhục nhất trong lịch sử dân tộc Việt. Thật bất hạnh cho cả một dân tộc khi một tập đoàn Việt gian “Xác Việt hồn Tàu”, bọn Thái thú thời đại đă cam tâm bán nước để duy tŕ địa vị thống trị tha hồ bóc lột vơ vét tài sản của nhân dân. Chưa bao giờ hiểm họa mất nước lại đè nặng lên con tim khối óc của những người Việt Nam yêu nước như bây giờ.
Chủ trương cố hữu của các triều đại Hán tộc xưa và Trung Cộng ngày nay là xâm chiếm Việt Nam bằng mọi giá. Ngay sau khi Mao Trạch Đông chiếm được Trung Hoa lục địa đă công khai tuyên bố: "Tất cả các lănh thổ và hải đảo thuộc khu vực ảnh hưởng của Trung Quốc đă bị phe Đế Quốc chiếm đoạt từ giữa thế kỷ 19 đến sau Cách Mạng 1911, như Ngoại Mông, Triều Tiên, An Nam (Việt Nam), Hồng Kông, Macao cùng những đảo tại Thái B́nh Dương như Sakhalin, Đài Loan, Bành Hồ sẽ phải được giao hoàn cho Trung Quốc". Mao Trạch Đông tuyên bố trắng trợn ư đồ xâm chiếm Việt Nam: “Chúng ta phải giành cho được Đông Nam châu Á, bao gồm cả Miên, Nam Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện, Malaysia và Singapore. Việt Nam là bàn đạp tiến xuống phía Nam, chúng ta phải chiếm cho bằng được …”. Cuốn Sơ Lược Lịch Sử Trung Quốc hiện đại nhắc lại những lời tuyên bố ngang ngược của Mao Trạch Đông: “sẽ vĩnh viễn thuộc về Trung Quốc bằng sự chinh phục và khai hóa của văn minh chống man di”. Đế quốc đỏ Trung Cộng c̣n láo xược gọi chúng ta là An Nam, là Man di như “Thiên triều” Đại Hán xa xưa của chúng. Chúng c̣n ngang nhiên vẽ bản đồ Trung Quốc bao gồm nhiều nước chung quanh kể cả Đông Nam Á và biển Đông.
Sau hiệp định dâng đất 25-12-1999 đến hiệp ước nhường biển ngày 30-12-2000, ngày 1-11-2007 CSVN lại chính thức cho Trung Cộng khai thác bauxite và sản xuất nhôm tại Lâm Đồng và Đắc Nông ở Cao nguyên. Đây là một h́nh thức “nhượng địa”, một “Tô Giới Trung Hoa” trên đất nước Việt Nam !!! Khi quan thầy Trung Cộng công khai thành lập huyện Tam Sa để quản lư Hoàng Sa và Trường Sa th́ tập đoàn cộng sản Việt gian bán nước lại trâng tráo tổ chức lễ mừng “Bán nước thành công tốt đẹp” rồi đặt ṿng hoa “Đời đời nhớ ơn liệt sĩ Trung Cộng” là những kẻ đă thẳng tay giết hại dân lành từ trẻ em đến cụ ǵa trăm tuổi. Tháng 11 năm 2007, Trung Quốc công bố quyết định thanh lập huyện Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam để sát nhập Hoàng Sa Trường Sa của VN vào lănh thổ TQ. Ngày 13-5-2009, nhà nước CHXHCNVN đệ nạp hồ sơ thềm lục địa tại Liên Hiệp Quốc để hợp thức hóa việc nhường biển cho Trung Quốc.
Hiện nay, Trung Cộng đă xây dựng căn cứ quân sự qui mô trên Hoàng Sa và Trường Sa để sẵn sàng xuất kích đổ bộ tiến chiếm Việt Nam.Từ vị trí chiến lược cao nguyên kết hợp với hải quân TC từ các căn cứ Hải quân ở Hoàng Sa, Trường Sa đánh chiếm miền ven bể th́ sự sống c̣n của dân tộc như sợi chỉ treo chuông. Đây là một hiểm họa không lường được ảnh hưởng đến sự tồn vong của dân tộc.
Chúng ta sẽ trở lại thời “ngàn năm đô hộ giặc Tàu”?
Lịch sử của ngàn năm Hán thuộc với những đau thương tủi nhục, những u uất căm hờn lại tái diễn trên đất Việt, không phải là lên rừng t́m ngà voi xuống biển ṃ ngọc trai nữa mà tinh vi hơn, thâm độc quỉ quái hơn ngàn lần. Đế quốc Trung Cộng chỉ mới xâm chiếm Tây Tạng từ năm 1959 đến nay mới có một nửa thế kỷ mà Đức Đạt lai Lạt Ma của Tây Tạng đă ngậm ngùi cay đắng thốt lên:
“Tôn giáo, văn hóa, ngôn ngữ và nhân cách của các thế hệ Tây Tạng, vốn qúi gía hơn mạng sống của họ, nay đă gần như bị tiêu diệt ! Đảng cộng sản và nhà nước Trung Cộng đă biến Tây Tạng thành một “Địa ngục trần gian”!!!
Tất cả đồng bào Việt Nam chúng ta, trong và ngoài nước phải làm ǵ trước khi đă qúa muộn … Việt Nam thân yêu của chúng ta sẽ trở thành một Tân Cương, một Tây Tạng thứ hai trong thế kỷ 21 này…???
Kính thưa toàn thể đồng bào,
Chúng tôi, những người Việt Nam ở trong và ngoài nước, ư thức được sự sống c̣n của dân tộc, tiếp nối truyền thống hào hùng bất khuất của tiền nhân mạnh dạn đứng ra vận động đồng bào quốc nội và hải ngoại cùng tham gia HỘI QUỐC TẾ NGHIÊN CỨU VỀ BIỂN ĐÔNG NAM Á, nhằm nói lên tất cả những sự thật về Biển Đông và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, trước dư luận quốc tế.
HỘI QUỐC TẾ NGHIÊN CỨU VỀ BIỂN ĐÔNG NAM Á là một Hội Dân lập, độc lập, không mang mầu sắc đảng phái được thành lập để nghiên cứu, tổ chức những cuộc hội thảo quốc tế tại nhiều quốc gia trên thế giới, với sự tham dự của các nhà nghiên cứu Việt Nam và quốc tế về Biển Đông.
Trong tinh thần đó, kính mời quư Hội Đoàn và quư Đồng Bào trong nước và Hải ngoại đóng góp ư kiến, ủng hộ và tham gia vào Hội Quốc tế Nghiên cứu về biển Đông Nam Á ngơ hầu tiến tới việc tổ chức những buổi hội thảo quốc tế để góp phần vào công cuộc vận động các quốc gia vùng Đông Nam Á và công luận quốc tế ủng hộ chủ quyền của Việt Nam trên 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Xin chân thành cảm tạ Đồng Bào.
Làm tại California ngày 20 tháng 04 năm 2 010
Nhóm vận động thành lập
Hội Quốc Tế Nghiên Cứu Về Biển Đông Nam Á
1. Giáo sư Nguyễn Thanh Liêm.
2. Nhà nghiên cứu Lịch sử Phạm Trần Anh.
3. Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích.
4. Dr Jerry Livingstone Voorhis.
5. Nhà b́nh luận Chu Chi Nam.
5. Nhà văn Cựu Sĩ quan QLVNCH Chu Tấn.
6. Giáo sư Nguyễn Chính Kết.
7. Tiến sĩ Nguyễn Anh Tuấn.
8. Bác Sĩ Nguyễn Quốc Quân
9. Tiến sĩ Mai Thanh Truyết
10. Ngục Sĩ Nguyễn Chí Thiện
11. Học Giả Vũ Hữu San
12. Mục sư Nguyễn Công Chính, đại diện 651 Mục sư Hiệp hội Thông công Tin Lành các dân tộc Việt Nam VPEF ở trong nước.
13. Nhà truyền thông Đỗ Thị Thuấn.
14. Nhà văn Chu Tất Tiến.
15. Ông Cao Đường
16. Giáo sư Trần Đức Thanh Phong
17. Nhà báo Chu Vũ Ánh
18. Nhà báo Đỗ Tiến Đức
19. Nhà văn Trần Phong Vũ
20. Nhà tranh đấu dân chủ Phan Hữu Chí
21. Phóng viên Hoàng Giang Thanh.
22. Ca Sĩ Tuấn Minh (Hưng Ca)
23. Ca Sĩ Tuyết Mai (Hưng Ca)
24. Ông Lư Nguyễn Thiên Quư
25. 26. Ông Bà Trần Văn Minh
27. Nhà báo Vương Kỳ Sơn
28. Luật Sư Nguyễn Xuân Nghĩa
29. Nhà Ngôn ngữ Nguyễn Hy Vọng.
30. Bà Trần Thanh Hiền
31. Ông Phan Văn Chính
32. Bác Sĩ Phạm Gia Cổn
33. Ông Phạm Ngọc Khôi
34. Ông Vũ Hoàng Hải (Khối 8406)
35. Nhà báo Vi Anh
36. Nhà báo Thanh Huy
38. Nhà báo Nguyên Huy
39. Ông Lê Thành Nhân
40. Ông Trần Trọng Đạt
41. Ông Phan Thanh Châu
42. Ông Trương Quốc Hưng
43. Bà Vũ Hoài Mỹ
44. Bà Phạm Thị Diệu Chi
45. Ông Trần Ngọc Bính
46. Ông Lê Quang Dật
47. Ông Nguyễn Sơn Hà
48. Giáo sư Lưu Trung Khảo
49. Ông Phạm Tú
50. Bà Phạm Kim
51. Ông Phan Kỳ Nhơn
52. Ông Trần Văn Thắng
53. Bà Nguyễn Duyên Trang
54. Kiến Trúc Sư Trần Thanh Phong
55. Bác sĩ Nguyễn Hy Vọng
56. Dr Phan văn Song Pháp Quốc : Luật gia chuyên môn Quốc tế Công Pháp, Phụ giảng Viện Nghiên Cứu Khoa học Quốc tế
57. Phạm Văn Thành, Cựu Tù nhân Chính Trị, Pháp Quốc
58. GS Dương Ngọc Sum
59. Nhà văn Nguyễn Hữu Của, Phó CT Văn Bút Tây Nam Hoa Kỳ.
60. Nhân sĩ Nguyễn Duy Nghiêu: Giám đốc Diễn đàn Dân chủ Tự do.
61. Nhà thơ Vũ Lang CT CLB Thi văn Tao Đàn Hải Ngoại.
......HỘI ĐOÀN, ĐOÀN THỂ
1. Lê văn Duyệt Foundation: Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Liêm.
2. Hội Ái Hữu Cựu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo: Nhà Sử Học Phạm Trần Anh.
3. Nghị Hội Toàn Quốc Người Việt tại Hoa Kỳ: Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích
4. Điện Báo Ánh Dương: Chủ Bút Đỗ Thị Thuấn
5. Cộng Đồng Người Việt Vùng Greater Vancouver (Canada): Ông Nguyễn Hữu Ninh, Chủ tịch
6. Phong Trào Yểm Trợ Khối 8406 - Vancouver: Ông Trần Ngọc Bính, Đại Diện
7. Văn Pḥng Đảng Thăng Tiến tại Pháp: Ông Nguyễn Sơn Hà, Đại Diện
8. Bút nhóm Gọi Đàn
9. Đảng Cách Mạng B́nh Xă Việt
......
XIN MỜI VÀO TRANG NHÀ www biendongnama.net
Xin quư vị gửi thư ủng hộ, đồng ư tham gia vào Hội về quocvietanhpham@yahoo.com, dothuan@sbcglobal.net
---------------------------------------------------------------------------------------------------
Trung Quốc Sẽ Tấn Công VN!
Chúng Ta Làm Ǵ?
Quốc Phùng
Biến Cố Quốc Tế Liên Quan Đến Vận Mạng Việt Nam
T́nh h́nh tranh chấp quốc tế đang rất bấp bênh và có nguy cơ bùng bổ chiến sự lớn. Các điểm nóng thời sự như:
1- Chiến tranh bán đảo Đại Hàn qua việc tiềm thủy đỉnh Bắc Hàn bắn hạ tàu chiến Nam Hàn.
2- Do Thái tuyên bố sẽ đơn phương hủy diệt các trung tâm nguyên tử Iran nếu t́nh h́nh ngày càng nguy hiểm cho Do Thái.
3- Xung đột Do Thái - Palestine đang ngày càng nóng lên qua việc Biên Pḥng Do Thái chận bắt tàu tiếp tế cho Gaza...
Trong lúc đó, các biến cố chính trị giữa Việt Nam và Trung Cộng những lúc gần đây cho chúng ta thấy rơ t́nh h́nh cũng đang ngày càng căng thẳng. Diễn tiến các tranh chấp và mâu thuẫn giữa hai nước trong vài tuần lễ gần đây cùng một chuỗi sự kiện cho ta biết rằng một cuộc đối đầu trong thời gian gần giữa Việt Nam - Trung Cộng sẽ khó tránh khỏi, theo sau các biến cố quốc tế.
Sau ngày 15 tháng 5 năm 2010, tức là ngày Trung Cộng cấm đánh bắt cá trong khu vực Biển Đông, báo chí và truyền thông Trung Cộng nhao nhao lên án Việt Nam xâm phạm chủ quyền Trung Cộng và kêu gọi một cuộc trừng phạt đích đáng. Ai chủ trương? Chắc chắn không phải dân thường Trung Cộng rồi!
Về phía Việt Nam, các ngư dân vẫn tiếp tục ra khơi và đi thành đoàn để bảo vệ lẫn nhau theo sự khuyến khích của chính quyền địa phương...Mới vài ngày gần đây, lực lượng biên pḥng Việt Nam bắt giữ một tàu đánh cá Trung Cộng vào sâu trong hải phận Việt Nam. Dù Việt Nam đă vội vă thả 30 thuỷ thủ Trung Cộng nhưng đây là dấu hiệu cho thấy Việt Nam bắt đầu có phản ứng. Cùng lúc ấy một trung tướng Hải Quân CS Việt Nam tuyên bố sẽ bảo vệ ngư dân Việt Nam hành nghề trong lănh hải.
Sự việc không dừng lại ở đó. Cách đây vài ngày, rất nhiều trang Webs chính thức của đảng và chính quyền CSVN, trong đó có trang báo điện tử "Nhân Dân", cơ quan ngôn luận của đảng CSVN bị Trung Cộng phong tỏa bằng cách thả virus phá hoại, theo sự điều tra và báo cáo của mạng toàn cầu Google.
Một loạt các diễn biến đó có nghĩa ǵ?
Tại sao CS Việt Nam không tiếp tục cúi đầu nhường nhịn dù đa số uỷ viên trong Bộ Chính Trị CSVN qua Nông Đức Mạnh, Nguyễn Phú Trọng, Tô Huy Rứa, Nguyễn Chí Vịnh v..v...chủ trương thần phục để ổn định? Đây là một chuỗi diễn tiến mà tập đoàn phản quốc khó thể kềm chế măi được:
1. Chính quyền địa phương thường xuyên kêu gọi Trung Ương có biện pháp bảo vệ ngư dân của ḿnh nhưng không được đáp ứng.
2. Các quân binh chủng CSVN nhất là Quân chủng Hải Quân rất bất b́nh trước những chỉ thị nhu nhược và đớn hèn khi được lệnh Hải Quân tránh chạm trán và không can thiệp giải cứu ngư dân dù Trung Cộng đang chận bắt và giết chóc dân lành trước mắt "lực lượng biên pḥng".
3. Một số không nhỏ Uỷ Viên Trung Ương có cái nh́n không "nhất quán" với Bộ Chính Trị về vấn đề Trung Cộng nên thường khi có cảnh "trống đánh xuôi, kèn thổi ngược".
Tại sao Trung Cộng chọn thời điểm này để tạo một chiến tranh giới hạn với Việt Nam?
Bài học ở Georgia khi Nga Sô xua quân khống chế chính quyền Georgia và tạo các khu tự trị thân Nga dứt khoát sẽ là nguồn cảm hứng chiến lược của Bắc Kinh. Chẳng hạn quân đội Nga tấn công Georgia đúng ngày 08-08-2008 khi các nguyên thủ quốc gia đang tham dự Thế Vận Hội Bắc Kinh và cả thế giới đang hướng về Thế Vận Hội "vĩ đại" đó.
Khi phát động chiến tranh khu vực giới hạn với Việt Nam, Bắc Kinh phải dựa vào một biến cố quốc tế để sự tiếp ứng và lên tiếng phản đối của thế giới bị giới hạn. Thật nhanh chóng trước khi quốc tế và Hoa Kỳ can thiệp, Bắc Kinh sẽ dứt điểm, tê liệt hóa toàn bộ truyền thông và đầu nảo chỉ huy quân sự của CSVN. Những vùng tự trị sẽ được thành lập. Một chính quyền bù nh́n hoàn toàn thân Trung Cộng sẽ tŕnh diện. Từ đây vĩnh viễn sức đề kháng của dân tộc Việt Nam sẽ bị triệt tiêu...
Chiến tranh biên giới Việt-Trung năm 1979
Dưới đây thêm phần tài liệu với bài viết đăng trên Bản Tin TĐV tháng 1-2010
CHÚNG TA PHẢI LÀM G̀ KHI CHIẾN TRANH VIỆT-TRUNG BÙNG NỔ
o0o
XUNG ĐỘT TRONG BANG GIAO VIỆT-TRUNG HIỆN NAY
Trong bang giao giữa Việt Nam và Trung Cộng, mặc dù hai chính quyền luôn đề cao 16 Chữ Vàng: "Láng Giềng Hữu Nghị, Hợp Tác Toàn Diện, Ổn Định Lâu Dài, Hướng Đến Tương Lai" và 4 Tốt: "Bạn Bè Tốt, Láng Giềng Tốt, Đồng Chí Tốt, Đối Tác Tốt". Nhưng đây quả thực là “đồng sàng dị mộng”. Trung Cộng đang ôm ấp một giấc mộng đẹp: Giấc mộng Đại Hán.
Trong giấc mộng này, các dân tộc Măn, Mông, Hồi, Tạng sẽ đời đời lệ thuộc Trung Cộng và sẽ bị Hán hoá trong ṿng vài thế hệ. Các dân tộc khác chung quanh Đại Hán, mà quan trọng và gần gũi nhất là Việt Nam, sẽ trở thành Phiên Thuộc. Việt Nam và các quốc gia khác ở Đông Nam Á-Châu và Nam Á-Châu sẽ là phên dậu, thành lũy bảo vệ Trung Nguyên.
Trong khi đó giấc mộng của CSVN là ǵ? CSVN mộng một sự ổn định lâu bền, duy tŕ quyền lực độc tôn của Đảng CS. Vơ vét làm giàu cho bản thân và gia đ́nh. Kéo dài sự cai trị của chế độ càng lâu càng tốt. Sự nhu nhược và thụ động thờ ơ với thời cuộc của người dân trong nước cũng là niềm mong mơi của chính quyền CSVN... Mộng đẹp của Trung Cộng và của đảng cầm quyền Việt Nam cũng chính là cơn ác mộng hăi hùng của dân tộc Việt Nam!
V́ Trung Cộng và CSVN theo đuổi hai giấc mộng cho hai quyền lợi khác nhau nên không tránh khỏi xung đột. Trung Cộng muốn Việt Nam phải hoàn toàn lệ thuộc từ kinh tế, chính trị đến an ninh khu vực nên áp lực CSVN về mọi mặt. Trước những chuyến công du quan trọng, các lănh đạo CSVN thường khi phải đi chầu tại Bắc Kinh, báo cáo mục đích chuyến đi và đường lối của đảng CSVN. Xác định mối tương quan trung thành và hữu nghị với đảng CS Trung Cộng.
Để lấy ḷng Trung Cộng và để tạo "ổn định chính trị", những ai lên tiếng phản đối Trung Cộng từ vấn đề lănh thổ đến lănh hải, từ Bauxite Cao Nguyên đến an ninh nội địa... đều bị đàn áp bắt bớ và đem ra toà xét xử với những bản án tiền chế nặng nề như từ trước đến nay mọi người đều rơ. Nhưng càng ngày Trung Cộng càng tỏ ra lấn lướt và bộc lộ dă tâm khống chế toàn diện. Tham vọng quá đáng và thái độ khinh miệt của Trung Cộng đối với Việt Nam làm CSVN ngày càng lộ vẽ bất măn.
Mặc dù phải ch́u ḷng Trung Cộng về mọi phương diện nhưng gần đây, CSVN bắt đầu lên tiếng phản đối. CSVN đă "dám" xác nhận Hoàng Sa là của Việt Nam qua việc thành lập "Ủy Ban Nhân Dân huyện đảo Hoàng Sa" (trước đây thủ tướng CSVN Phạm Văn Đồng xác nhận Hoàng Sa thuộc về Trung Cộng). CSVN đă "dám" phản đối Trung Cộng tập trận tại Biển Đông, đă "dám" than phiền việc Trung Cộng cướp bóc và đánh đập ngư dân Việt Nam... Gần đây CSVN đă thành lập “Lực Lượng Dân Quân Bảo Vệ Biển”, CSVN kư kết mua tàu ngầm tối tân của Nga Sô trị gía nhiều tỷ đô la. Các tàu chiến Hoa Kỳ viếng thăm VN và gặp gở cấp cao về Quốc Pḥng...
Tại sao CSVN "can đảm" quá vậy? Ḷng yêu nước trong những người Cộng Sản vượt thắng ḷng ích kỷ chỉ biết bảo vệ chế độ và ḷng tham vơ vét vô tận cho bản thân và gia đ́nh? Hay là "Con giun xéo lắm cũng oằn"?...Hoàn toàn không phải!CSVN đủ kiến thức nhận định t́nh h́nh và đang lo sợ chế độ bị sụp đổ, CSVN biết ḷng dân đang phẩn nộ và sẳn sàng đoàn kết đứng lên chống lại bao nỗi bất công đầy dẫy trong xă hội. CSVN thừa biết người dân nghĩ ǵ trước thái độ nhu nhược của đảng cầm quyền trước giặc Tàu Ô. Họ biết rơ ḷng ái quốc luôn luôn tiềm tàng trong tâm khảm mọi người con dân nước Việt. Họ cũng biết rơ càng đàn áp, ḷng yêu nước càng mạnh mẽ thêm lên. Đó là tất cả những lư do CSVN phải liều lĩnh can ngăn và phản đối Trung Cộng! CSVN đang đu dây giữa ḷng yêu nước của toàn dân và mưu đồ bành trướng Đại Hán. CSVN đang nổ lực xoa dịu sự bực ḿnh, khó chịu của người thầy và cũng là "đồng chí" đă ban tặng 16 chữ Vàng. Mâu thuẫn càng chồng chất, việc dạy cho Việt Nam một "Bài Học Thứ Nh́" càng khó tránh khỏi. Không khó t́m những website Trung Cộng có những bài tham luận chống Việt Nam nẩy lửa của những nhân vật chính trị và quân sự nổi tiếng của Trung Cộng. Những kế hoạch công khai hô hào tấn đánh Việt Nam!...
CHÚNG TA PHẢI LÀM G̀ MỘT KHI TRUNG CỘNG TẤN CÔNG VIỆT-NAM?
Đây là một câu hỏi khó cho người Việt Nam có ḷng với quê hương từ quốc nội ra đến hải ngoại và cũng là câu hỏi khó cho các tổ chức đấu tranh. Mục tiêu của chúng ta là tranh đấu cho Tự Do và Dân Chủ cho toàn dân Việt. Đối tượng của chúng ta là đảng CSVN. Nhưng một khi Trung Cộng khơi mào chiến tranh và đảng CSVN kêu gọi mọi người dân Việt phải tham gia bảo vệ Tổ Quốc! Chúng ta sẽ làm thế nào?
Trong sự tuyên truyền và chuẩn bị của CSVN, sẽ chỉ có một lựa chọn duy nhất để bảo vệ Tổ Quốc và chủ quyền là toàn dân đứng dưới sự lănh đạo của đảng CSVN!!! Đây là sự áp đặt và lợi dụng ḷng ái quốc của toàn dân. CSVN rất tự tin là ḷng dân nằm về phía họ. Thực tế sẽ hoàn toàn khác hẳn. CSVN rơ ràng không được ḷng dân! Sau nhiều thập niên độc tài, đàn áp và triệt tiêu ḷng ái quốc của người dân, CSVN rất khó huy động khi cấn đến. Sẽ không có sự đoàn kết dân tộc như đảng CSVN mong muốn mà khi ấy sẽ có ba khuynh hướng tiêu biểu từ quốc nội ra đến hải ngoại:
1. Khuynh Hướng Hưởng Ứng: Những người theo khuynh hướng này sẽ hưởng ứng lời kêu gọi của đảng CSVN cống hiến tài lực, vật lực và nhân lực, tích cực xông ra chiến trường bảo vệ Tổ Quốc. CSVN sẽ kích động ḷng yêu nước của toàn dân bằng những bài học lịch sử chống ngoại xâm, bằng những bài ca hùng ca, bằng những bài viết kích động ḷng người một ḷng một dạ chống bọn Bành Trướng Bắc Kinh, chống bọn Trung Cộng Xâm Lược... Cả một bộ máy tuyên truyền trong tay đảng CSVN sẽ mở hết công suất ngày đêm kêu gọi tinh thần hy sinh của toàn dân đứng lên chống giặc ngoại xâm.
Hậu quả: Cho dù chính quyền CSVN bằng mọi tiềm năng dân tộc giữ ǵn được nước nhưng quốc gia sẽ kiệt quệ trong một thời gian dài. Điều quan trọng và bất hạnh nhất cho dân tộc là đất nước vẫn tiếp tục nằm dưới ách độc tài toàn trị của đảng CSVN.
2. Khuynh Hướng Thụ Động: Tương tự năm 1979 khi Trung Cộng dạy cho Việt Nam bài học lần thứ nhất. Hầu hết những người Việt Nam theo khuynh hướng này đều chán ngán sự cai trị của đảng CSVN nên hoàn toàn thụ động, phó mặc cho "vận nước nổi trôi". Họ không muốn Trung Cộng chiến thắng và áp đặt ách cai trị lên dân tộc Việt Nam bằng một chính quyền Việt Nam bù nh́n! Nhưng họ cũng không tha thiết mong mỏi chính quyền do đảng CSVN lănh đạo chiến thắng trong cuộc tương tranh giữa hai thể chế độc tài và tàn hại ngang nhau.
Hậu quả: Đất nước có thể lọt vào tay Trung Cộng. Một chính quyền bù nh́n có thể được dựng lên. Chính quyền này sẽ là công cụ cho ngoại bang. Biên cương và mọi quyền lợi dân tộc sẽ lần hồi mai một.
3. Khuynh Hướng Dân Tộc: Đây sẽ là động cơ chính bảo vệ đất nước tránh họa ngoại xâm. Đây cũng là khuynh hướng chính đáng nhất có thể thay đổi chế độ Độc-Tài Đảng-Trị bằng chế độ Dân-Chủ Tự-Do. Những người theo khuynh hướng này sẽ kêu gọi quốc tế can thiệp bảo vệ sinh mạng người dân vô tội. Những tổ chức đấu tranh và nhân quyền trong và ngoài cộng đồng người Việt sẽ vận động chính phủ các quốc gia Dân-Chủ Tự-Do trên thế giới, áp lực Trung Cộng ngưng các cuộc tấn công quân sự và buộc chính quyền CS Việt Nam phải chấp nhận chính thể Đa-Nguyên. Đặt nền tảng quốc gia trên cơ chế Dân Chủ Pháp Trị và tổ chức bầu cử Quốc Hội Lập Hiến có quốc tế giám sát.
Trên thực tế, các quốc gia dân chủ trên thế giới không bao giờ tán đồng và hổ trợ các chính thể độc tài, độc đảng như chế độ CSVN, Bắc Hàn hoặc Cuba. Những hoạt động quốc tế trợ giúp dù có chỉ thuần là trợ giúp nhân đạo hay nhằm mục đích giúp đở các nước Cộng Sản độc tài c̣n sót lại trên thế giới phát triển. Có tiến bộ và phát triển hy vọng dân chủ sẽ được cải thiện hơn, đời sống người dân sẽ được ấm no hạnh phúc hơn...
Bỏ ra ngoài sự tuyên truyền một chiều của giới lănh đạo CS, chẳng hạn như "Việt Nam được kính nể khắp năm Châu" v..v...không một quốc gia dân chủ nào trên thế giới thật ḷng kính trọng một chính quyền độc tài không do dân bầu lên. Không một quốc gia nào thành tâm muốn giúp cho các chính quyền Cộng Sản tiếp tục cai trị đất nước một cách lạc hậu và vô trách nhiệm như ở Việt Nam hiện nay.
Một chính quyền của dân, do dân, v́ dân phải được chính người dân tín nhiệm và trực tiếp bầu cử bằng chính lá phiếu của ḿnh. Chính quyền đó mới được quốc tế thực ḷng yểm trợ và kính nể.
Kết luận:
Áp dụng thành công Khuynh Hướng Dân Tộc sẽ là thành tựu to lớn nhất của dân tộc Việt Nam. Sau hàng trăm năm bị đô hộ, chiến tranh và Cộng Sản thuộc, mọi người sẽ góp phần xây dựng đất nước bằng sức cần lao và trí tuệ của ḿnh. Để tránh bị ngoại xâm, Việt Nam phải là một quốc gia độc lập hùng cường, có một định chế Trung Lập Pháp Lư được quốc tế công nhận và cam kết bảo vệ. Nền hoà b́nh khi đó mới thực sự vững bền và trường cữu.
Quốc Phùng.
-------------------------------------------------------------------------------------------------
“KẺ THÙ TỔ QUỐC”
Khi nói lên tiếng nói của lương tâm
Chống lại bạo tàn, ác ôn, vô trí
Chống lại độc tài, tham ô, đảng trị
Anh cho rằng tôi “thù hận quê hương”Khi dân oan rần rộ kéo xuống đường
Biểu t́nh chống bọn giành nhà cướp đất
Anh cho họ là “nghịch thù DÂN TỘC”,
“Phá quê hương” và “phản lại nhân dân” !Khi người dân tố cáo cộng hung tàn
Anh bảo họ là bọn người “qúa khích”
(Nhà nước anh coi họ là thù địch
Đáng bỏ tù và tra tấn dă man!)Này anh hỡi, đừng lư luận bắt quàng:
Biến dân oan thành “kẻ thù đất nước”!
Luận cứ ấy điêu ngoa không nghe được
Lối tuyên truyền, lừa phỉnh qúa ngây ngôTôi khuyên anh hăy bỏ thói hàm hồ
Trở về với QUÊ HƯƠNG và DÂN TỘC
Nghe tiếng lương tâm: Phục vụ tổ quốc
Quên hận thù, “ḥa giải” với dân oan !Lắng nghe đây! Hỡi những kẻ lạc đàng
Hăy nh́n rơ QUÊ HƯƠNG, DÂN TỘC!QUÊ HƯƠNG ta gồm cả vùng Bản Giốc
Từ Nam Quan cho đến tận Cà Mau
Cha ông ta mảnh liệt chống quân Tàu
Cương quyết giữ ǵn biên cương lănh thổQUÊ HƯƠNG không phải là phủ bắc bộ
Chẳng phải là bọn Minh, Giáp, Duẩn, Đồng
Cũng chẳng là đảng cộng, đám cuồng ngông
Hay Triết, Dũng, bọn buôn dân bán nướcQUÊ HƯƠNG ta, dăy non sông gấm vóc
Với kinh thành: Hà nội, Huế , Sài-G̣n
Và địa danh như Quảng Trị, Vĩnh Long
Chớ chẳng phải thành hồ, Leningrad !Quê hương ta, bức địa đồ vừa rách nát
Mất Nam Quan, Bản Giốc, đảo Trường sa
Làng xóm ta vang vội tiếng rên la
Của lương dân khóc mất nhà mất đất !DÂN TỘC ta biết thờ Trời, kính Phật
Chứ không là qủy đỏ, lủ tam vô
Đốt sách, bắt sư, đóng cửa nhà thờ
Đày tu sĩ , chiếm chùa, đào nghĩa địaDÂN TỘC ta trọng luân thường đạo nghĩa
Chứ không gian tham, tráo trở lọc lường
Bán đàn bà con gái khắp mười phương
Dưới chế độ nhà nước anh “quản lư” !Này anh hỡi, mở mắt nh́n cho kỹ
Ai tham tàn làm tan nát QUÊ HƯƠNG ?
Ai đàn áp dân khốn khổ xuống đường
Ai cướp đất, buôn lao nô, bán nướcAi đă cắt Nam Quan và Bản Giốc
Đem biên cương, hải phận hiến quân Tàu
Ai hận thù để dân Việt thương đauĐấy, kẻ thù của QUÊ HƯƠNG, DÂN TỘC !
CHÍNH CỘNG SẢN LÀ “KẺ THÙ TỔ QUỐC !”
Trần Chiêu Yên
Hỏi Anh
Thắm thoát tháng Tư đă đến rồi
Ngoài sân lác đác cánh đào rơi
Ngậm ngùi nhớ qúa trời quê mẹ
Anh hỡi, cho tôi hỏi mấy lời!Anh nói rằng anh “giải phóng” tôi
Mà sao khốn khổ quá anh ơi
Cha đi “cải tạo” ngoài phương Bắc
Mẹ sống lầm than giữa chợ đờiAnh nói rằng ta có tự do
Mà sao người sống kiếp co ro
Thuyền neo băi vắng chờ đêm xuống
Vượt biển mù khơi lánh rợ hồAnh nói quê ta giờ “đổi mới”
Mà sao độc đảng vẫn c̣n đây
Mà sao nhũng lại nhiều như mối
Đục khoét quê hương suốt tháng ngày!Anh bảo dân ta no ấm rồi
Mà sao đem bán cả con người
Thanh niên “xuất khẩu” làm lao dịch
Thiếu nữ nô t́nh chốn dặm khơi !Anh bảo rằng anh trí tuệ cao
Mà sao thua kế lũ quân Tàu
Nam Quan, Bản Giốc không c̣n nữa
Mất đất, này anh, có thấy đau !?Anh ơi, mở mắt nh́n cho rơ
Chủ nghĩa hoang đường, hăy lánh xa
Cộng sản rơ là loài quỷ đỏ
Phá tan, đập nát cả sơn hà !Nh́n kia! Dân chúng quá lầm than
Thảm thiết kêu oan khắp xóm làng
Băi thị đ́nh công, giành sự sống
Quay về, anh hơi, với nhân dânNày anh bộ đội với công an
Xin hăy một ḷng với quốc dân
Quay súng triệt tiêu phường cộng đảng
Cứu người dân Việt khỏi gian nan !Làm Sao Biết Được Đứa Văn Nô
Làm sao biết được đứa văn nô ?
Thú thật chuyện ni dể thấy mồ:
Lăi nhăi tấn công người chống cộng
Ồn ào ve vuốt lủ "bưng bô"
Quốc gia đả cộng th́ moi móc
Cộng sản buôn dân lại ngó lơ
Thơ phú ru đời, “phi chính trị”
Rơ ràng chính nó: đứa văn nôTrần Chiêu Yên
--------------------------------------------------------------------------------------------------
HOÀNG SA TRƯỜNG SA THEO TRUNG QUỐC SỬ
Luật Sư Nguyễn Hữu Thống
Dẫn Nhập
Thời Thế Chiến II, cuối thập niên 1930 Nhật Bản cấu kết với Đức Quốc Xă và Phát Xít Ư để phát động Chiến Tranh Thái B́nh Dương. Năm 1938 Nhật chiếm 3 đảo tại Hoàng Sa là Phú Lâm, Lincoln và Hữu Nhật. Qua năm sau, ngày 30-3-1939, Chính Phủ Đông Kinh ra Tuyên Cáo đ̣i chủ quyền lănh thổ tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Năm 1937, Nhật oanh tạc và tiến chiếm Nam Kinh Thượng Hải trong cuộc chiến tranh không tuyên chiến. Trước đó, năm 1931, Nhật chiếm Măn Châu để thành lập Măn Châu Quốc và đem Phổ Nghi là ông vua cuối cùng của triều Măn Thanh về làm vua Măn Châu.
Việc Nhật Bản thôn tính Hoàng Sa và Trường Sa năm 1939 là một hành động xâm lăng vơ trang làm bàn đạp tấn công các quốc gia thân Tây Phương tại Đông Nam Á như Phi Luật Tân, Mă Lai, Nam Dương, Tân Gia Ba, Miến Điện và Việt Nam. Đặc biệt để kết hợp Mặt Trận Hoa Nam với Mặt Trận Đông Bắc tại Nam Kinh Thượng Hải. Đây là nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia Trung Hoa. Mặc dầu vậy, Chính Phủ Trùng Khánh vẫn án binh bất động và không lên tiếng phản đối.
Trong khi đó, thay mặt Việt Nam, ngày 21-4-1939, Chính Phủ Pháp đă gửi Công Hàm phản kháng hành động xâm lăng phi pháp của Nhật Bản tại Biển Đông Hải, đồng thời công bố chủ quyền lănh thổ của Việt Nam tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Tại Hà Nội, bàn về vụ tranh chấp Biển Đông, nhà văn Hoàng Đạo trong Nhóm Ngày Nay quan niệm rằng: “Lấy luật mới cũ ra mà nói th́ Hoàng Sa là của Việt Nam . Nhưng trên trường quốc tế, người ta không theo luật mới cũ ǵ cả. Chỉ có Luật của Sức Mạnh. Đó là quan điểm thực tiễn theo châm ngôn Kẻ Mạnh Bao Giờ Cũng Có Lư, và Sức Mạnh Là Lẽ Phải. (La raison du plus fort est toujours la meilleure; Might is right).
Để phản bác quan niệm phi nhân này, chúng ta đề ra nguyên lư căn bản trong việc tổ chức xă hội loài người:
V́ con người không phải là cầm thú nên nhân loại văn minh không chấp nhận Luật Rừng Xanh Mạnh Được Yếu Thua. V́ con người không phải là tôm cá nên chúng ta phủ nhận quan niệm Cá Lớn Nuốt Cá Bé.
Đó là nói về thời điểm 1939.
35 năm sau, tháng 1-1974, thừa dịp quân đội Hoa Kỳ rút khỏi Việt Nam theo Hiệp Định Paris 1973, Trung Quốc vận dụng toàn lực chiếm 6 đảo Hoàng Sa thuộc Nhóm Lưỡi Liềm phía tây nam với các đảo Hoàng Sa, Quang Ḥa, Quang Ảnh, Hữu Nhật, Duy Mộng và Tri Tôn.
Trước đó, hồi tháng 4-1956, thừa dịp quân đội Pháp rút khỏi Việt Nam theo Hiệp Định Geneva 1954, Trung Quốc chiếm 7 đảo Hoàng Sa thuộc Nhóm An Vĩnh phía đông bắc. Đó là vùng biển của Việt Nam có danh xưng là Thất Châu Dương gồm 7 đảo: Phú Lâm, Lincoln, Đảo Ḥn Đá, Đảo Cây, Đảo Bắc, Đảo Trung và Đảo Nam.
Năm 1974, từ Paris Giáo Sư Hoàng Xuân Hăn nhận định rằng: “Hoàng Sa thất thủ là do sự rạn nứt của khối đại đoàn kết dân tộc. Hoàng Sa là đất của Việt Nam , của nước Việt Nam thống nhất. Khi Việt Nam c̣n chia đôi th́ chúng ta không có tư thế để điều đ́nh đ̣i lại quần đảo này, mặc dầu theo lịch sử có nhiều bằng chứng cho biết đó là đất của Việt Nam ”.
Do đó muốn giành lại chủ quyền hải phận và hải đảo tại Biển Đông Hải phải có sự đoàn kết quốc dân trong một quốc gia thống nhất.
Đó là cảm nghĩ của nhà trí thức lư tưởng, tha thiết đến tiền đồ đất nước. Tuy nhiên, từ 1974 đến nay đă 36 năm, thời gian cho biết nhận định này đă tỏ ra không chính xác.
V́ ngày nay đất nước ta đă thống nhất. Và toàn dân ta, với trên 85 triệu người Việt trong và ngoài nước, đă đồng tâm nhất trí đứng lên đấu tranh đ̣i lại những hải đảo và hải phận đă mất. Vậy mà, theo chiều hướng hiện tại, càng ngày chúng ta càng mất chủ quyền lănh thổ tại Biển Đông Hải. Lư do không phải v́ đất nước chúng ta bị qua phân, mà v́ chúng ta có một chính quyền đi trái ḷng dân, không cho người dân đứng lên bảo toàn đất tổ và hành sử quyền yêu nước bằng những cuộc biểu dương lực lượng quy mô và đồng loạt khắp nơi trên thế giới làm chấn động dư luận quốc tế và cảnh tỉnh lương tri nhân loại. Đồng thời gây áp lực buộc kẻ xâm lược phải chùn bước xâm lăng, phải tôn trọng danh dự và chữ kư của họ. Và phải ngồi vào bàn hội nghị để các cơ quan trọng tài hay tài phán quốc tế đưa ra những giải pháp công bằng và hợp lư theo tinh thần và bản văn Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển mà họ đă kư kết tham gia năm 1982. Công Ước này là một văn kiện trong chính sử Trung Quốc và có hiệu lực chấp hành từ năm 1994.
1. Quy Chế Thềm Lục Địa
Chiếu Điều 76 Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển các quốc gia duyên hải được hưởng quy chế Thềm Lục Địa 200 hải lư (370km) để thăm ḍ và khai thác dầu khí. Đây là chủ quyền chuyên biệt (sovereign exclusive right), không tùy thuộc vào điều kiện phải có sự chiếm hữu, khai phá hay tuyên bố minh thị (occupation, exploration or assertion of right). Mọi sự tự tiện chiếm cứ của ngoại bang dầu có vơ trang hay không đều bất hợp pháp, vô giá trị và vô hiệu lực (các Điều 77 và 81).
Về mặt địa lư, tại quần đảo Hoàng Sa, đảo Tri Tôn chỉ cách Quảng Ngăi 135 hải lư, và đảo Hoàng Sa chỉ cách lục địa Việt Nam 160 hải lư. V́ vậy quần đảo Hoàng Sa nằm trong Thềm Lục Địa 200 hải lư của Việt Nam.
Trong khi đó các đảo Hoàng Sa cách Hoa Lục tới 270 hải lư nên không nằm trong Thềm Lục Địa của Trung Hoa.
Về mặt địa chất, các chuyên gia quốc tế như Tiến Sĩ Khoa Học Armand Krempt, Giám Đốc Viện Hải Học Đông Dương, sau 2 năm nghiên cứu, đo đạc và vẽ bản đồ các hải đảo và đáy biển, đă lập phúc tŕnh kết luận rằng: “Về mặt địa chất, các đảo Hoàng Sa là thành phần của Việt Nam”. (Geologiquement les Paracels font partie du Vietnam). Về địa h́nh đáy biển Hoàng Sa là một cao nguyên ch́m dưới đáy biển nối tiếp lục địa Việt Nam.
Độ sâu nhất tại vùng biển Hoàng Sa là 900m. (Trong quá tŕnh h́nh thành nước Biển Đông Hải đă rút xuống 4,000m). Ngày nay nếu nước biển rút xuống 900m th́ các đảo Hoàng Sa sẽ biến thành một hành lang chạy thoai thoải từ dẫy Trường Sơn qua Cù Lao Ré đến các đảo Tri Tôn, Hoàng Sa và Phú Lâm. (Phúc Tŕnh Krempt về Hoàng Sa lập trong hai năm 1925-1927 được lưu trữ tại Văn Khố Trường Viễn Đông Bác Cổ Paris).
V́ đáy biển Hoàng Sa là sự tiếp nối tự nhiên của lục địa Việt Nam từ đất liền kéo dài ra ngoài biển nên chiếu Điều 76 Luật Biển, Việt Nam có triển vọng được Ủy Ban Định Ranh Thềm Lục Địa Liên Hiệp Quốc cho mở rộng Thềm Lục Địa Pháp Lư 200 hải lư thành Thềm Lục Địa Địa Chất hay Thềm Lục Địa Mở Rộng đến 350 hải lư (650km).
Trong khi đó từ Hoàng Sa về lục địa Trung Hoa có một rănh biển sâu tới 2,300m. Như vậy về mặt địa chất và địa h́nh đáy biển, Hoàng Sa không phải là sự tiếp nối tự nhiên của lục địa Trung Hoa từ đất liền ra ngoài biển. Trong trường hợp này Trung Hoa không được hưởng quy chế Thềm Lục Địa Mở Rộng.
Tại Trường Sa cũng vậy, tại Băi Thanh Long Tứ Chính, nơi khai thác dầu khí, độ sâu chỉ tới 400m, và tại đảo Trường Sa độ sâu chỉ tới 200m. Như vậy về mặt địa chất và địa h́nh đáy biển, cũng như Hoàng Sa, các đảo Trường Sa là sự tiếp nối tự nhiên của lục địa Việt Nam từ đất liền ra ngoài biển. Theo quan điểm của các Luật Sư Covington và Burling trong Bản Tường Tŕnh tháng 6-1995 gửi Chính Phủ Việt Nam, quần đảo Trường Sa có triển vọng được hưởng quy chế Thềm Lục Địa Mở Rộng đến 350 hải lư.
Trong khi đó từ Trường Sa về bờ biển Quảng Đông có một rănh biển sâu tới 4,550m. Như vậy các đảo Trường Sa không phải là sự tiếp nối tự nhiên của lục địa Trung Hoa từ đất liền ra ngoài biển. Và Trung Quốc không được hưởng quy chế Thềm Lục Địa Mở Rộng 350 hải lư. Dầu sao, trong mọi trường hợp, khoảng cách từ Hoa Lục tới đảo Trường Sa là 750 hải lư (quá xa tầm 350 hải lư Thềm Lục Địa Mờ Rông nếu có).
Hơn nữa, về mặt địa lư, Băi Thanh Long Tứ Chính và đảo Trường Sa chỉ cách lục địa Việt Nam từ 150 đến 220 hải lư. Trong khi đó quần đảo Trường Sa cách lục địa Trung Hoa từ 550 đến 800 hải lư nên không nằm trong thềm lục địa Trung Hoa.
Trong Bản Tường Tŕnh nạp tại Ủy Ban Phân Ranh Thềm Lục Địa Liên Hiệp Quốc ngày 11- 5-2009 , Chính Phủ Bắc Kinh chỉ đề cập đến hải phận hay Biển Lịch Sử chứ không vẽ Thềm Lục Địa Mở Rộng theo các tiêu chuẩn luật định về khoa học và kỹ thuật như Liên Hiệp Quốc đ̣i hỏi.
Cũng v́ vậy Ủy Ban Phân Ranh Thềm Lục Địa Liên Hiệp Quốc sẽ bác bỏ không cứu xét đơn thỉnh nguyện của Bắc Kinh. Để trốn tránh vấn đề và làm lạc hướng dư luận, Trung Quốc chỉ đơn thuần đ̣i vùng biển phác họa theo h́nh chữ U mà họ gọi là Lưỡi Rồng Trung Quốc hay Biển Lịch Sử.
2. Lưỡi Rồng Trung Quốc
Lưỡi Rồng Trung Quốc (mà dân gian gọi là Lưỡi Ḅ) chiếm 80% hải phận Biển Đông Nam Á. Nó nằm sát bờ biển các quốc gia duyên hải, chỉ cách Quảng Ngăi 40 hải lư và cách Phi Luật Tân và Mă Lai 25 hải lư. Như vậy nó tước đoạt ít nhất 160 hải lư của Thềm Lục Địa Việt Nam, và 175 hải lư của các Thềm Lục Địa Phi Luật Tân và Mă Lai. Đây hiển nhiên là sự vi phạm thô bạo Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển dành chủ quyền chuyên biệt cho các quốc gia duyên hải như Việt Nam, Phi Luật Tân và Mă Lai được hưởng tối thiểu 200 hải lư Thềm Lục Địa Pháp Lư để thăm ḍ và khai thác dầu khí.
Theo học giả Mark J. Valencia tại Viện Hải Học Đông Tây Hawaii (East-West Institute) yêu sách của Trung Quốc về Biển Lịch Sử không được Luật Pháp và Ṭa Án chấp nhận. Ngày nay càng ngày dư luận quốc tế càng phê phán và chế giễu Lưỡi Rồng Trung Quốc là khôi hài và lố bịch (China’s claim is being increasingly criticized and even ridiculed: China and the South China Sea Disputes, Mark J. Valencia, Oxford University Press. October 1995).
Hồi thế kỷ thứ nhất Đế Quốc La Mă cũng đ̣i chủ quyền lănh thổ toàn vùng Biển Địa Trung Hải mà họ gọi là “Biển Lịch Sử Của Chúng Tôi!” (Mare Nostrum: Notre Mer/ Our Sea). Địa Trung Hải là vùng biển bao la chạy từ bờ biển Tây Ban Nha qua Pháp, Ư, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ đến các bờ biển Trung Đông và Bắc Phi. Đó là một quan niệm bá quyền lỗi thời từ 2 ngàn năm trước.
Mặc dầu vậy, từ 1955, để phục hồi Chủ Nghĩa Bá Quyền, Mao Trạch Đông lại nêu lên thuyết Biển Lịch Sử để đ̣i chủ quyền lănh thổ tại vùng biển và các hải đảo Hoàng Sa Trường Sa. Theo ngoa ngôn của Bắc Kinh Lưỡi Rồng Trung Quốc rộng bằng phân nửa lục địa Trung Hoa. Họ cho đó là một vấn đề bất khả tranh nghị.
Về điểm này chúng ta nhắn nhủ nhà cầm quyền Bắc Kinh rằng: Trong thế kỷ này và dưới ṿm trời này, không có điều ǵ, việc ǵ, hay vấn đề ǵ là bất khả tranh nghị. Về mặt tinh thần, văn hóa và đạo lư, Trung Quốc không thể nói một đàng làm một nẻo. Họ phải tôn trọng danh dự quốc gia và chữ kư của họ trong Công Ước. Họ phải chấp nhận công khai hóa vụ tranh chấp và phải đưa ra trước thanh thiên bạch nhật những tài liệu và quan điểm cho biết tại sao và căn cứ vào đâu mà đ̣i tước đoạt chủ quyền lănh thổ của các quốc gia Đông Nam Á tại các thềm lục địa như đă quy định trong Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982 mà Trung Quốc đă kư kết tham gia với tư cách một trong Ngũ Cường hội viên thường trực Hội Đồng Bảo An có quyền phủ quyết? Nếu không đưa ra sự giải thích hợp lư và các cơ sở pháp lư th́ Trung Quốc vẫn chỉ là kẻ sử dụng Luật Rừng Xanh theo chủ trương Mạnh Được Yếu Thua và Cá Lớn Nuốt Cá Bé. Để tước đoạt 4/5 Thềm Lục Địa Pháp Lư của Việt Nam , đồng thời tước đoạt 7/8 Thềm Lục Địa Pháp Lư của Phi Luật Tân và Mă Lai.
Hơn nữa, chiếu các Điều 77 và 81 Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, chủ quyền của các quốc gia duyên hải tại thềm lục địa có tính tuyệt đối và chuyên biệt. Bất cứ sự xâm phạm nào của ngoại bang dầu là xâm chiếm vơ trang hay không vơ trang cũng đều bất hợp pháp, vô giá trị và vô hiệu lực. Cũng như việc Nhật Bản đă chiếm cứ bất hợp pháp các hải đảo và hải phận tại Hoàng Sa và Trường Sa thời Thế Chiến II từ 1938 đến 1945.
Chắc hẳn Trung Quốc cũng hay biết rằng Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982 là một văn kiện pháp lư rút trong chính sử mà trên một trăm quốc gia hội viên Liên Hiệp Quốc phải tôn trọng và thực thi.
Trung Quốc không thể tự coi ḿnh là một ngoại lệ bằng cách ban hành Luật Biển Quốc Nội năm 1992 (Domestic Law of the Sea) để mở rộng đường cơ sở của Biển Lănh Thổ (Territorial Sea) và Vùng Tiếp Cận (Contiguous Zone) và coi ranh giới Lưỡi Rồng Trung Quốc là “biên thùy chiến lược” của đảo Hải Nam. Tuy nhiên biên thùy này cách lục địa Trung Hoa cả ngàn cây số nên không thể coi là biên thùy cho một hải đảo hay một lục địa.
Chiếu nguyên tắc “các hiệp ước quốc tế phải được tôn trọng” (Rule Pacta Sunt Servanda), Điều 26 Công Ước Vienna về Luật Hiệp Ước (Vienna Convention on the Law of Treaties 1969) quy định như sau: “Các hiệp ước quốc tế có hiệu lực chấp hành buộc các quốc gia kết ước phải ngay t́nh tuân thủ”. Ủy Ban Liên Hiệp Quốc về Luật Quốc Tế (The United Nations International Law Commission) coi đây là “một nguyên tắc căn bản về luật hiệp ước, có lẽ là nguyên tắc quan trọng nhất trong công pháp quốc tế”.
Chiếu nguyên tắc về giá trị thượng tôn của Luật Quốc Tế đối với Luật Quốc Nội (Rule of Supremacy of International Law), các quốc gia kết ước phải thực sự thi hành những quyến hạn và nghĩa vụ ghi trong các hiệp ước hay công ước quốc tế. Họ không thể viện dẫn luật quốc nội để khước từ thi hành nghĩa vụ của họ ghi trong các hiệp ước và công ước quốc tế mà họ đă kư kết hay tham gia.
Đó chính là trường hợp của Trung Quốc. 10 năm sau khi kư Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982, năm 1992, Bắc Kinh ban hành Luật Quốc Gia về Biển mở rộng đường cơ sở của Biển Lănh Thổ và Vùng Tiếp Cận để xâm phạm chủ quyền chuyên biệt tại các Thềm Lục Địa của Việt Nam, Mă Lai và Phi Luật Tân.
Ngoài ra, như đă tŕnh bày, ranh giới Lưỡi Rồng Trung Quốc tại Hoàng Sa, Trường Sa không thể coi là biên thùy chiến lược của đảo Hải Nam hay của Hoa Lục. V́, theo định nghĩa, biên thùy phải nằm sát hải đảo hay lục địa.
Những vi phạm Luật Biển nói trên phải được đệ tŕnh Ṭa Án Quốc Tế (The Hague) hay các Ṭa Án Luật Biển do Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển thiết lập.
Muốn giải quyết những mâu thuẫn và tranh chấp về thềm lục địa, về hải phận và hải đảo, về mặt tố tụng, các quốc gia đương tụng phải, trước hết, tuân hành những phương thức điều giải ôn ḥa như ḥa giải, thương nghị hay trọng tài trước khi nội vụ được thụ lư bởi các ṭa án quốc tế.
Ngoài Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982, c̣n có rất nhiều tài liệu lịch sử rút ra từ chính sử hay ngoại sử Trung Quốc theo đó chủ quyền của Việt Nam tại các hải đảo Hoàng Sa Trường Sa đă được thừa nhận bởi các quốc gia trên thế giới kể cả Trung Quốc.
3. Trung Quốc Khước Từ Chủ Quyền lănh thổ tại Hoàng Sa và Trường Sa trong Tuyên Cáo Cairo 1943
Trong khi Thế Chiến II c̣n đang tiếp diễn, năm 1943, ba cường quốc đồng minh đại diện bởi Tổng Thống Hoa Kỳ Roosevelt, Thủ Tướng Anh Churchill và Tổng Thống Trung Hoa Dân Quốc Tưởng Giới Thạch đă hội nghị tại Cairo (Ai Cập), và đă kư Tuyên Cáo Cairo ngày 27-11-1943 trong đó có đoạn như sau:
“Đối tượng của các quốc gia đồng minh là tước bỏ quyền của Nhật Bản trên tất cả các lănh thổ và hải đảo tại Thái B́nh Dương mà Nhật đă cưỡng chiếm từ khi khởi sự Thế Chiến I. Tất cả các lănh thổ và hải đảo mà Nhật Bản đă chiếm đoạt của nhân dân Trung Hoa như Măn Châu, Đài Loan và Bành Hồ sẽ phải giao hoàn cho Trung Hoa Dân Quốc”. Điều đáng lưu ư là, tại Hội Nghị Cairo Tổng Thống Tưởng Giới Thạch không đ̣i Hoàng Sa và Trường Sa. Và như vậy đă khước từ chủ quyền tại hai quần đảo này. (U. N. Treaty Series, American Policy 1950-1955).
Năm 1931, bằng chiến tranh vơ trang, Nhật xâm chiếm Măn Châu để thành lập “Măn Châu Quốc”. Lúc này theo khuyến cáo của Luật Sư Ngoại Trưởng Henry Stimson, Tổng Thống Hoa Kỳ Herbert Hoover đề ra Chủ Thuyết Stimson theo đó Hoa Kỳ không thừa nhận các quốc gia hay chính phủ thiết lập do chiến tranh vơ trang. Năm 1931, Hoa Kỳ và Anh Quốc đă áp dụng Chủ Thuyết Stimson khi Nhật Bản xâm chiếm Măn Châu bằng vơ lực. Cũng v́ vậy trong Tuyên Cáo Cairo 1943 Tổng Thống Roosevelt và Thủ Tướng Churchill tán thành đề nghị của Tổng Thống Tưởng Giới Thạch về việc Đồng Minh sẽ giao hoàn Măn Châu cho Trung Quốc khi chiến tranh kết thúc.
Trước đó, trong Chiến Tranh Trung-Nhật 1894-1895, đảo Đài Loan và quần đảo Bành Hồ cũng bị Nhật Bản chiếm cứ bằng vơ lực nên cũng sẽ phải giao hoàn cho Trung Quốc.
Tại Biển Đông Hải, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng đă bị Nhật Bản chiếm cứ bằng vơ lực hồi khởi sự Thế Chiến II. Năm 1938 Nhật Bản chiếm 3 đảo tại Hoàng Sa là Phú Lâm, Lincoln và Hữu Nhật (Robert). Năm 1939 Nhật Bản công bố chủ quyền tại hai quần đảo Hoàng Sa Trường Sa và đổi tên Hoàng Sa thành Hirata Gunto và Trường Sa thành Shinnan Gunto. Nếu quả thật hai quần đảo này thuộc chủ quyền lănh thổ của Trung Quốc th́ lẽ cố nhiên Tổng Thống Tưởng Giới Thạch cũng đă đề nghị giao hoàn Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc tại Hội Nghị Cairo 1943.
Theo công pháp quốc tế Tuyên Cáo Cairo 1943 là một hiệp ước quốc tế tạo nên những nghĩa vụ quốc tế áp dụng cho các quốc gia liên hệ. Nó có hiệu lực cưỡng hành đối với Trung Quốc, dầu là Trung Hoa Dân Quốc hay Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Quốc là quốc gia kế thừa chủ quyền. Đặc biệt là, trong hiện vụ, cả hai phe Quốc Cộng Trung Hoa đều xác nhận như vậy.
Thật vậy, ngày 4-12-1950, Chu Ân Lai, lúc này là ngoại trưởng, tuyên bố tán thành Bản Tuyên Cáo Cairo 1943 là văn kiện lịch sử quốc tế mà Hoa Kỳ, Anh Quốc và Trung Quốc đă kư kết để làm căn bản cho Ḥa Ước kư với Nhật Bản (Ḥa Ước San Francisco ngày 8-9-1951). (Chou En Lai’s Statement on the Peace Treaty with Japan . People’s China , 12-16-1950 ).
12 năm sau khi kư, ngày 8-2-1955, trong bản “Duyệt Lại T́nh H́nh Thế Giới” Tổng Thống Tưởng Giới Thạch cũng xác nhận Tuyên Cáo Cairo và Tuyên Ngôn Potsdam đă phản ảnh chính xác sự thật lịch sử: “Tôi c̣n nhớ năm 1943 cố Tổng Thống Hoa Kỳ Roosevelt và Thủ Tướng Anh Churchill đă cùng tôi họp Hội Nghị Cairo để thảo luận về những vấn đề liên quan đến việc tiến hành Chiến Tranh Chống Nhật. Trong Bản Tuyên Cáo công bố vào ngày bế mạc Hội Nghị (27-11-1943) chúng tôi loan báo rằng tất cả các lănh thổ mà Nhật Bản đă chiếm của Trung Quốc, kể cả Đông Bắc Tỉnh (Măn Châu), Đài Loan và Bành Hồ, phải được giao hoàn cho Trung Quốc. Bản Tuyên Cáo này đă được Tuyên Ngôn Potsdam (ngày 26-7-1945 ) thừa nhận và được Nhật Bản chấp nhận thi hành khi đầu hàng. Như vậy giá trị Tuyên Cáo Cairo đặt căn bản trên những thỏa thuận không ai có thể dị nghị được”. (Review of International Situation, China Publishing Co, Taipei 1956, p.p 22-23).
Tuyên Cáo Cairo ngày 27-11-1943 cũng đă được Liên Sô tán thành tại Hội Nghị Tehran ngày 30-11-1943 giữa Tổng Thống Roosevelt, Thủ Tướng Churchill và Chủ Tịch Stalin. Trong phiên Hội Nghị này Stalin cho biết ông đă đọc Tuyên Cáo Cairo với đầy đủ nội dung của nó. Ông cũng nh́n nhận rằng việc giao hoàn Măn Châu, Đài Loan và Bành Hồ cho Trung Quốc là hợp lư. (The Conferences at Cairo and Tehran 1943, The Foreign Relations of the United States, Washington D.C, 1961)
4. Đồng Minh Không Thừa Nhận Chủ Quyền Lănh Thổ của Trung Quốc tại Hoàng Sa Trường Sa trong Tuyên Ngôn Potsdam 1945.
Tháng 5-1945 Đức Quốc Xă đầu hàng Đồng Minh. Tháng 7-1945 Mỹ, Anh và Liên Sô họp Hội Nghị Potsdam (Đức) để thảo luận về tương lai chính trị, đặc biệt về vấn đề tổ chức tuyển cử tại các nước Đông Âu và Trung Âu. Ngoài ra Tuyên Ngôn Potsdam ngày 26-7-1945 c̣n ấn định thể thức giải giới quân đội Nhật Bản đầu hàng Đồng Minh tại Thái B́nh Dương. Để tước khí giới quân đội Nhật, Đồng Minh quyết định chia Việt Nam thành 2 khu vực giải giới theo Vĩ Tuyến 16: Quân đội Trung Hoa có nghĩa vụ giải giới và hồi hương quân đội Nhật từ Vĩ Tuyến 16 ra Bắc. Và quân đội Anh được ủy nhiệm giải giới và hồi hương quân đội Nhật từ Vĩ Tuyến 16 vào Nam. (Japan Subdued: The End of The War in the Pacific, Princeton Press University, 1961).
Theo Tuyên Ngôn Potsdam, Trung Quốc có nghĩa vụ giải giới quân đội Nhật từ Vĩ Tuyến 16 ra Bắc kể cả tại quần đảo Hoàng Sa tọa lạc tại Vĩ Tuyến 16: Nhóm Lưỡi Liềm (Crescent Group) phía tây nam tại vĩ độ 16o30 và Nhóm An Vĩnh (Amphitrite Group) phía đông bắc tại vĩ độ 16o50. Trong khi đó quân đội Anh có nghĩa vụ giải giới quân đội Nhật từ Vĩ Tuyến 16 vào Nam, kể cả tại quần đảo Trường Sa tọa lạc tại các Vĩ Tuyến từ 12o đến 7o (từ Cam Ranh xuống Nam Cà Mau).
Giải giới quân nhân không phải là tiếp thu hay chiếm hữu lănh thổ. Do đó nếu Anh Quốc không có chủ quyền lănh thổ tại Trường Sa, th́ Trung Quốc cũng không có chủ quyền lănh thổ tại Hoàng Sa. Và lẽ dĩ nhiên, Trung Quốc cũng không có chủ quyền lănh thổ tại Trường Sa.
Về việc giải giới quân đội Nhật tại phía Bắc Vĩ Tuyến 16, ngày 28-2-1946 Trung Quốc kư với Pháp Hiệp Ước Trùng Khánh theo đó “Pháp khước từ trị-ngoại pháp-quyền và các quyền liên hệ khác tại Trung Hoa” (chủ yếu là Pháp trả Trung Quốc các tô giới tại Thượng Hải và Quảng Châu Loan). Để bù lại Trung Quốc đồng ư để quân đội Pháp đổ bộ lên Bắc Việt thay thế quân đội Trung Hoa giải giới quân đội Nhật tại phía bắc Vĩ Tuyến 16. (Jean R. Sainteny: Histoire D’une Paix Manquée, Indochine 1945-1947).
Một tuần sau Hiệp Ước Trùng Khánh, Chính Phủ Pháp kư với Chính Phủ Hà Nội Hiệp Ước Sơ Bộ Sainteny ngày 6-3-1946 theo đó Pháp thừa nhận Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa là một quốc gia tự do và tự trị trong Liên Bang Đông Dương và trong Liên Hiệp Pháp. Về mặt quân sự 15 ngàn quân Pháp được đồn trú tại Việt Nam trong thời hạn 5 năm. Theo tinh thần hợp tác quốc tế, Chính Phủ Hà Nội cam kết sẽ tiếp đón quân đội Pháp vào Bắc Việt để thay thế quân đội Trung Hoa giải giới quân đội Nhật.
Việc này cho biết, khác với Măn Châu, Đài Loan và Bành Hồ, Đồng Minh không nh́n nhận Hoàng Sa Trường Sa thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Lư do là v́, tại Măn Châu, Đài Loan và Bành Hồ, Trung Quốc được quyền tiếp thu rồi tự ḿnh đứng ra giải giới quân đội Nhật Bản mà không phải nhờ đến các quốc gia đồng minh Anh Pháp.
5. Hội Nghị Ḥa B́nh San Francisco 1951 Thừa Nhận Chủ Quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa.
Mùa Xuân 1945, 51 quốc gia đồng minh họp Hội Nghị San Francisco để thành lập Liên Hiệp Quốc. 6 năm sau, năm 1951, 51 quốc gia đồng minh lại họp Hội Nghị để kư Ḥa Ước Cựu Kim Sơn ngày 8-9-1951. Mục đích để chấm dứt t́nh trạng chiến tranh, phục hồi và tái thiết Nhật Bản nhằm xây dựng ḥa b́nh thế giới trong tinh thần ḥa giải, hợp tác và hữu nghị theo tôn chỉ của Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, và phỏng theo Kế Hoạch Marshall được thi hành từ 1947 để tái thiết Âu Châu.
Năm 1949 Đảng Cộng Sản Trung Quốc đă cướp chính quyền bằng vơ trang tại Hoa Lục, và Chính Phủ Trung Hoa Dân Quốc đă di tản sang Đài Loan. Trong điều kiện chính trị này các Quốc Gia Đồng Minh Tây Phương không thừa nhận Chính Phủ Bắc Kinh chiếu Chủ Thuyết Stimson được áp dụng trong vụ Măn Châu năm 1931. Do đó cả hai Chính Phủ Quốc-Cộng Trung Hoa đều không được mời tham dự Hội Nghị Ḥa B́nh San Francisco 1951.
Trong khi đó, ngày 8-3-1949, Pháp kư với Việt Nam Hiệp Định Elysee để trả độc lập và thống nhất cho Quốc Gia Việt Nam. Ngày 23- 4-1949 , chiếu nguyên tắc Dân Tộc Tự Quyết, Quốc Hội Nam Kỳ biểu quyết giải tán chế độ thuộc địa để sát nhập Nam Phần vào Quốc Gia Việt Nam độc lập và thống nhất. Từ đó Việt Nam có tư cách để đứng ra bảo vệ chủ quyền quốc gia và sự toàn vẹn lănh thổ từ Nam Quan đến Cà Mâu. Với tư cách này, Việt Nam được mời tham dự Hội Nghi San Francisco 1951.
Ngày 12-7-1951 Ban Tổ Chức Hội Nghị San Francisco đă phổ biến bản Dự Thảo Ḥa Ước trong đó Điều 2 về Lănh Thổ (Territory) đề cập đến 4 vấn đề chủ yếu sau đây:
(a) Nhật Bản nh́n nhận nền độc lập của Triều Tiên. [sau khi thắng Nga năm 1905, Nhật thiết lập chế độ thuộc địa tại Triều Tiên].
(b) Nhật Bản khước từ chủ quyền tại các đảo Kurile và Sakhalin [để giao hoàn cho Liên Sô. Trước Chiến Tranh Nga-Nhật năm 1905 các đảo này thuộc chủ quyền của Vương Quốc Nga].
(c) Nhật Bản khước từ chủ quyền tại đảo Đài Loan và quần đảo Bành Hồ [để giao hoàn cho Trung Quốc. Những đảo này Nhật Bản đă chiếm của Trung Quốc trong Chiến Tranh Trung-Nhật 1895].
(d) Nhật Bản khước từ chủ quyền tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa [để giao hoàn cho Việt Nam].
Đây là một sự thật lịch sử và một quyết định hợp lư. V́ nếu Hoàng Sa Trường Sa thuộc chủ quyền lănh thổ của Trung Quốc [cũng như Đài Loan và Bành Hồ] th́ Điều 2 Ḥa Ước San Francisco không cần phải chia thành hai đề mục riêng biệt (c) và (d), mà chỉ cần ghi: “Nhật Bản khước từ chủ quyền tại đảo Đài Loan và các quần đảo như Bành Hồ, Hoàng Sa và Trường Sa” [để giao hoàn cho Trung Quốc].
Khi Nhật Bản tuyên bố khước từ chủ quyền lănh thổ về Hoàng Sa và Trường Sa tại Hội Nghị Ḥa B́nh San Francisco 1951, các quốc gia tham dự Hội Nghị đă phủ nhận chủ quyền của Trung Quốc, và mặc nhiên nh́n nhận chủ quyền của Việt Nam tại 2 quần đảo này. Thật vậy:
Ngày 5-9-1951, trong phiên Khoáng Đại Hội Nghị thứ 5, Ngoại Trưởng Liên Sô Andrei Gromyko đệ tŕnh Tu Chính Án yêu cầu Hội Nghị trao Đài Loan, Bành Hồ, Trường Sa và Hoàng Sa (Nam Sa và Tây Sa) cho Trung Quốc. Tu Chính Án này đă bị Hội Nghị bác bỏ với 46 phiếu chống, 3 phiếu thuận và 1 phiếu trắng.
Ngày 7-9-1951, trong phiên Khoáng Đại Hội Nghị thứ 7, Thủ Tướng kiêm Ngoại Trưởng Trần Văn Hữu, Trưởng Phái Đoàn Quốc Gia Việt Nam lên diễn đàn công bố chủ quyền của Việt Nam tại các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa và không gặp sự phản kháng nào của 51 quốc gia tham dự Hội Nghị (kể cả Liên Sô).
Qua hôm sau, ngày 8-9-1951 các quốc gia tham dự Hội Nghị San Francisco chấp thuận toàn bộ Bản Dự Thảo Ḥa Ước đặc biệt là Điều 2 quy định nền độc lập của Triều Tiên và giao hoàn 3 nhóm hải đảo tại Thái B́nh Dương cho 3 nước Liên Sô, Trung Quốc và Việt Nam.
Về mặt pháp lư, với sự công bố chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa trước 50 quốc gia hội viên Liên Hiệp Quốc tham dự Hội Nghị San Francisco 1951, chúng ta khẳng định rằng: Từ 1951 các Quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa đă được các quốc gia trên thế giới thừa nhận thuộc chủ quyền lănh thổ của Việt Nam, chứ không thuộc chủ quyền của Trung Quốc.
Việc 92% các quốc gia Đồng Minh hội viên Liên Hiệp Quốc thừa nhận chủ quyền của Việt Nam tại các quần đảo Hoàng Sa Trường Sa có giá trị tuyệt đối (erga omnes: full force and credit), kể cả đối với những quốc gia không tham dự Hội Nghị như Trung Quốc và Đài Loan. (Conference for the Conclusion and Signature of the Peace Treaty with Japan, U. N. Treaty Series, Volume 136, p. 46).
Như ta đă biết, chiếu Chủ Thuyết Stimson ban hành năm 1931, Hoa Kỳ và các quốc gia đồng minh như Anh, Pháp không công nhận Chính Phủ Mao Trạch Đông v́ Đảng Cộng Sản Trung Quốc đă cướp chính quyền tại Hoa Lục bằng vơ trang hai năm trước đó (1949).
Ba năm sau Hội Nghị San Francisco 1951, Hội Nghị Geneva 1954 đă minh thị xác nhận chủ quyền của Việt Nam tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
6. Hiệp Định Geneva 1954 Minh Thị Xác Nhận các Quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc Chủ Quyền Lănh Thổ của Việt Nam
Tháng 7-1954, để giải quyết Chiến Tranh Đông Dương, Hội Nghị Geneva được triệu tập với sự tham dự của 9 quốc gia gồm Ngũ Cường Mỹ, Anh, Pháp, Liên Sô và Trung Quốc, cùng Ai Lao, Cao Miên và 2 nước Việt Nam là Quốc Gia Việt Nam (Miền Nam) và Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa (Miền Bắc). Hiệp Định Geneva ngày 20-7-1954 một lần nữa, đă minh thị xác nhận chủ quyền của Việt Nam Cộng Ḥa (lúc này là Quốc Gia Việt Nam) tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Thật vậy:
a). Điều 4 Hiệp Định Geneva ngày 20-7-1954 quy định như sau:
“Giới tuyến giữa Miền Bắc và Miền Nam Việt Nam (Vĩ Tuyến 17) kéo dài ra ngoài hải phận theo một đường thẳng góc với đường ven biển.
“Lực lượng Liên Hiệp Pháp (gồm có Quốc Gia Việt Nam , Pháp và đồng minh) phải rút khỏi tất cả các hải đảo tại phía Bắc giới tuyến (Vĩ Tuyến 17).
“Quân đội Nhân Dân Việt Nam (Bắc Việt) phải rút khỏi tất cả các hải đảo phía Nam giới tuyến” (Vĩ Tuyến 17) nơi tọa lạc các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (từ vĩ tuyến 17 đến vĩ tuyến 7, từ Quảng Trị xuống Nam Cà Mau).
Do đó chiếu Hiệp Định Geneva 1954, quân đội Bắc Việt phải triệt thoái ra khỏi hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa tọa lạc về phía nam Vĩ Tuyến 17 (Quảng Trị-Nam Cà Mâu). Và, lẽ tất nhiên, tất cả các quân đội ngoại quốc khác (kể cả Trung Quốc và nhất là Trung Quốc) phải tôn trọng chủ quyền lănh thổ của Việt Nam Cộng Ḥa và không được chiếm cứ hay đồn trú tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa kể cả vùng hải phận tại Biển Đông Hải. (Từ 1955 Quốc Gia Việt Nam thay đổi chính thể và lấy quốc hiệu là Việt Nam Cộng Ḥa).
V́ Bắc Việt không có chủ quyền lănh thổ từ Vĩ Tuyến 17 vào Nam nên Chính Phủ Hà Nội không có tư cách sở hữu chủ để chuyển nhượng vùng hải phận và các hải đảo Hoàng Sa Trường Sa cho bất cứ quốc gia đệ tam nào, kể cả Trung Quốc và nhất là Trung Quốc. Kết quả là Công Hàm Phạm Văn Đồng gửi Chu Ân Lai ngày 14-9-1958 không có giá trị và không có hiệu lực pháp lư.
b). Hơn nữa Điều 24 Hiệp Định Geneva 1954 c̣n buộc Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa phải tôn trọng chủ quyền lănh thổ của Việt Nam Cộng Ḥa: “Hiệp định này áp dụng cho tất cả các lực lượng vũ trang của đôi bên. Lực lượng vũ trang của mỗi bên sẽ phải tôn trọng lănh thổ dưới quyền kiểm soát của bên kia và không có hành động nào chống phá hay phong tỏa (bên kia), danh từ lănh thổ bao gồm cả hải phận và không phận”.
c). Ngoài ra Điều 12 Bản Tuyên Ngôn Sau Cùng của Hội Nghị Geneva ngày 21-7-1954 cũng khẳng định: “Các quốc gia tham dự Hội Nghị Geneva (trong đó có Trung Quốc) cam kết tôn trọng chủ quyền độc lập, nền thống nhất quốc gia và sự toàn vẹn lănh thổ của Việt Nam ”. (Trung Quốc là một trong 9 quốc gia tham dự Hội Nghị Geneva 1954 với Anh Quốc và Liên Sô là đồng chủ tịch). (Thế Nguyên, Đông Dương 1945-1973, Saigon, 1973).
d). Phụ Đính Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc (1998) cũng khuyến cáo các quốc gia hội viên tránh mọi vi phạm tập thể, thô bạo và có hệ thống bắt nguốn từ sự kỳ thị chủng tộc, đô hộ hay chiếm đóng, gây hấn hay đe dọa chủ quyền quốc gia và sự toàn vẹn lănh thổ bằng cách phủ nhận quyền dân tộc tự quyết và quyền của các dân tộc được hành sử đầy đủ chủ quyền đối với các tài nguyên và nguồn lợi thiên nhiên của đất nước”.
Căn cứ vào những tài liệu lịch sử nói trên, Trung Quốc đă ư thức sự yếu kém của họ về cả ba mặt pháp lư, địa lư và lịch sử. Do đó họ không bao giờ dám công khai thảo luận về vấn đề tranh chấp chủ quyền các hải đảo và hải phận tại Biển Đông Hải. Họ thường tránh né và cho đó là một vấn đề bất khả tranh nghị. Lư do đơn giản là họ không có tài liệu hay lư lẽ ǵ để đưa ra tranh nghị công khai trong tinh thần chính đại quang minh.
Tất cả lư lẽ và lập trường của Trung Quốc chỉ thu gọn trong câu: “Biển Nam Hoa là Biển Lịch Sử của Trung Quốc”. Cách đây 2000 năm, trong thế kỷ thứ nhất, Đế Quốc La Mă cũng đă từng tuyên bố “Địa Trung Hải là Biển Lịch Sử của Chúng Tôi”. Theo các luật gia và chuyên viên hải học trên thế giới, thuyết Biển Lịch Sử của Đế Quốc La Mă và Đế Quốc Đại Hán đă lỗi thời và lạc hậu.
Kể từ 1982, vấn đề Biển Lịch Sử hay Nội Hải đă được giải quyết chung thẩm bởi Điều 8 Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển:
“Ṭa Án Quốc Tế định nghĩa “Biển Lịch Sử là Nội Hải, nghĩa là vùng biển tọa lạc trên đất liền về phía bên trong đường cơ sở của Biển Lănh Thổ. Theo Ṭa Án Tối Cao: “Ngoại trừ trường hợp các quốc gia quần đảo (như Phi Luật Tân hay Nhật Bản), Biển Lịch Sử hay nội hải của một quốc gia nằm bên trong đất liền về phía bên trong đường cơ sở của biển lănh thổ”. (The International Court of Justice has defined “historic waters” as “internal water” (Fisherys cases UK vs. Norway , 1951, I. C. J. 116, 130); “Waters on the landward side of the baseline of the territorial sea form part of the internal water of the State” (Art. 8 LOS Convention 1982).
Trong khi đó, Biển Nam Hoa chỉ là ngoại hải chạy từ bờ biển Trung Hoa đến bờ biển Nam Dương, và rộng tới 2000 cây số.
7. Lịch Sử Trung Quốc Thời Trung Cổ
Thêm một tài liệu đáng tin cậy về chính sử Trung Quốc là cuốn “Lịch Sử Trung Quốc Thời Trung Cổ” do Hàn Lâm Viện Trung Quốc xuất bản tại Đài Bắc năm 1978. Trong bài “Nghiên Cứu về Lịch Sử và Địa Lư” học giả Hsieh Chiao-Min nhận định về cuộc Thám Hiểm của Trung Hoa tại Đại Dương như sau: “Suốt chiều dài lịch sử, về sự phát triển văn hóa và khoa học, dân tộc Trung Hoa không tha thiết đến đại dương”. Theo những tài liệu lịch sử chính thống “thản hoặc nhà cầm quyền Trung Hoa cũng gửi những đoàn thám hiểm đến Nhật Bản trong các thế kỷ thứ ba và thứ hai Trước Công Nguyên, và tại Đông Nam Á, Ấn Độ, Ba Tư và Phi Châu trong thế kỷ 15. Điểm rơ nét nhất là tại Thái B́nh Dương có rất ít, nếu không nói là không có, những vụ xâm nhập quy mô của Trung Quốc” suốt chiều dài lịch sử (từ đời nhà Tần thế kỷ thứ ba Trước C. N. đến nhà Thanh từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 20).
Dưới đời nhà Minh, Minh Thành Tổ cử Đô Đốc Thái Giám Trịnh Ḥa chỉ huy những đoàn thám hiểm đến Ấn Độ Dương và Biển Ả Rập nhằm thiết lập bang giao với trên 30 quốc gia duyên hải, đồng thời khai triển Con Đường Tơ Lụa tại Ấn Độ, Phi Châu và Trung Đông. Những chuyến hải hành của phái bộ Trịnh Ḥa không phải để chinh phục vùng Biển Nam Hoa nơi tọa lạc các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đoàn hải thuyền chỉ đi qua (cross) Biển Nam Hoa nhằm khai phá (explore) Ấn Độ Dương. Phái bộ không hề ghé đến các hải đảo Việt Nam, trạm trú chân duy nhất là Đồ Bàn hay Trà Bàn (Chaban) thủ phủ Chiêm Thành. Sau khi Minh Thành Tổ mất, dư luận triều đ́nh nhà Minh đă phê phán những cuộc hải tŕnh nặng phần tŕnh diễn của Trịnh Ḥa v́ đă làm suy yếu nền kinh tế quốc gia.
(Throughout most of their long history of cultural and scientific development, the Chinese people have been but passively interested in the ocean. Historical records indicate that from time to time the Chinese authorities sent out maritime exploring expeditions, notably those to Japan as early as the second and third centuries B.C., and to Southeast Asia , India , and Africa during the fifteenth century. Apparently there have been few, if any, planned deep penetrations of the Pacific Ocean by the Chinese during their long history. But Chinese traders did follow the land and water trade routes to India and beyond to Africa and the Middle East , prior to the Renaissance. Chiao-Min Hsieh, Chinese History Middle Ages: China Academy , Taipei , 1978, p. 287.
During a period of twenty-eight years, from 1405 to 1433 Admiral Cheng Ho led seven exploring expeditions into the Pacific and Indian Oceans and visited more than thirty-seven countries. The large exploring expeditions that were to cross the South China Sea and explore the Indian Ocean were criticized by the court as poor to (an impoverishment of) the country. Chiao-Min Hsieh, Ibid, p. 290-291). (The Chinese expeditions were diplomatic not commercial, much less piratical or colonizing ventures. John King Fairbank, China , A New History: Harvard University Press 1991, p. 138).
Trong Trung Quốc sử có nhiều tài liệu lịch sử và nhiều tác phẩm của các học giả Trung Hoa xác nhận chủ quyền lănh thổ của Việt Nam tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
1. Dưới đời Nhà Thanh, trong các thế kỷ từ 17 đến 20, theo bản đồ Hoàng Thanh Nhất Thống Dư Địa Tổng Đồ do Chính Phủ ấn hành năm 1894, th́ đến cuối thế kỷ 19, “lănh thổ của Trung Quốc chỉ chạy đến đảo Hải Nam là hết”. Qua thế kỷ 20 sự kiện này được xác nhận trong cuốn Trung Quốc Địa Lư Học Giáo Khoa Thư xuất bản năm 1906 với đoạn như sau: “Điểm cực Nam của Trung Quốc là bờ biển Châu Nhai thuộc quận Quỳnh Châu (Hải Nam) tại Vĩ Tuyến 18”. Các quận Châu Nhai và Đạm Nhĩ thuộc đảo Hải Nam kéo dài từ Vĩ Tuyến 20 (ngang Thanh Hóa) đến Vĩ Tuyến 18 (ngang Nghệ Tĩnh). Trong khi đó quần đảo Hoàng Sa tọa lạc về phía nam, từ Vĩ Tuyến 17 đến Vĩ Tuyến 15 (Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngăi), và quần đảo Trường Sa tại các Vĩ Tuyến 12-8 (Cam Ranh - Cà Mâu).
Trong bản đồ Đại Thanh Đế Quốc do Chính Phủ ấn hành cũng không thấy vẽ các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, và không thấy ghi các danh xưng Hán hóa như Tây Sa, Nam Sa, Vĩnh Lạc, Tuyên Đức, v…v….
Hơn nữa, trong bộ Hải Quốc Đồ Kư, cuốn Hải Lục của Vương Bỉnh Nam (1820-1842) viết: “Vạn Lư Trường Sa (Hoàng Sa) là dải cát dài ngoài biển được dùng làm phên giậu che chắn mặt ngoài bờ cơi nước An Nam”. Như vậy có sự nh́n nhận rằng quần đảo này là biên thùy của Việt Nam .
Theo học giả Marwyn S. Samuels trong cuốn Tranh Chấp tại Biển Nam Hoa, không có bằng chứng nào cho thấy nhà Thanh đă sát nhập các hải đảo này vào lănh thổ Trung Quốc (There is no evidence here that the Ch’ing State had in any sense absorbed the islands into the imperial domain: Marwyn S. Samuels, Contest for the South China Sea, Methuen London, 1982, note 31, p.38).
Tập Địa Dư Chí Tỉnh Quảng Đông được vua Nhà Thanh duyệt phê năm 1731, không ghi hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lănh thổ Trung Quốc (cũng như Bản Đồ Mao Khôn trong cuốn Vũ Bị Chí đời Nhà Minh).
Trong bộ sách địa lư “Đại Thanh Nhất Thống Chí” do Quốc Sử Quán Trung Hoa biên soạn năm 1842 với lời tựa của vua Thanh Tuyên Tông, không có chỗ nào ghi Thiên Lư Trường Sa hay Vạn Lư Trường Sa (quần đảo Hoàng Sa) thuộc địa phận tỉnh Quảng Đông.
Đặc biệt là trong cuốn Hải Quốc Văn Kiến Lục của Trần Luân Quưnh (năm 1744), vùng hải phận của Việt Nam tại Biển Đông Hải được ghi bằng các danh xưng Việt Hải và Việt Dương.
Ngoài ra cuốn Hải Ngoại Kỷ Sự của Thích Đại Sán xuất bản năm 1695 đời Khang Hi cũng ghi nhận chủ quyền của Đại Việt trong việc chiếm hữu, kiểm soát và khai thác vùng Biển Đông Hải nơi tọa lạc các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Đời Nhà Hán, sau khi Hán Vũ Đế thôn tính và đổi tên nước Nam Việt thành Giao Chỉ Bộ, vùng biển Đông Hải chạy từ bờ biển Bắc Việt đến Thanh Hóa, Nghệ An (Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam) có tên là Giao Chỉ Dương.
2. Đời nhà Minh cuốn Vũ Bị Chí của Mao Nguyên Nghi (và cuốn Lĩnh Ngoại Đại Đáp của Chu Khứ Phi đời nhà Tống) cũng gọi Biển Đông Hải là Giao Chỉ Dương. Trong khi đó trên các bản đồ Trịnh Ḥa Hạ Tây Dương, Trịnh Ḥa Hàng Hải Đồ không thấy ghi các quần đảo Hoàng Sa Trường Sa với các danh xưng Hán hóa Tây Sa, Nam Sa, Tuyên Đức, Vĩnh Lạc trong các lộ tŕnh và hải đạo của Trịnh Ḥa 7 lần đi qua Biển Nam Hoa để khai phá Biển Tây Dương (Ấn Độ Dương).
Theo lịch sử Việt Nam trong hai thế kỷ 14 và 15 có sự giao chiến liên miên giữa Việt Nam và Chiêm Thành. Nếu quả thật nhà Minh đă chiếm đất Chiêm Thành năm 1413 trong chuyến đi thứ tư của Trịnh Ḥa, th́ lẽ tất nhiên sử sách của Trung Hoa và Việt Nam đă phải ghi chép việc đó. Trong khi đó theo sách Dư Địa Chí đời Hồng Đức, tới hậu bán thế kỷ 15 dưới đời vua Lê Thánh Tông năm 1471, Chiêm Thành đă là lănh thổ của Đại Việt gồm có lục địa, hải phận và các hải đảo.
Theo Đại Nam Nhất Thống Chí về tỉnh Khánh Ḥa th́ cuốn Minh Sử cũng ghi chép như sau: “Sứ thần Chiêm Thành nói: Cổ lai đất nước Chiêm có 27 xứ, 4 phủ, 7 châu, 22 huyện, nay vua An Nam lấy đi chỉ c̣n 5 xứ, từ Bang Đô Lang đến Chân Lạp mà thôi”. Lúc này vua Nhà Minh sai sứ sang yêu cầu vua Lê Thánh Tông trả đất cho Chiêm Thành nhưng Ngài không chịu. (Lư do là v́ Minh Chủ không trả đất Nam Việt của Triệu Vũ Đế cho nước Đại Việt).
Những tài liệu lịch sử này cho biết từ thế kỷ 15, các đảo Hoàng Sa và Trường Sa nguyên là địa bàn hải phận ngư nghiệp của Chiêm Thành đă trở thành lănh thổ của Đại Việt. Cũng nên ghi chú rằng từ năm 1427 Lê Lợi đă đánh thắng quân Nhà Minh để giành lại chủ quyền độc lập đă bị Minh Thành Tổ tước đoạt từ 20 năm trước (1407).
3. Đời nhà Nguyên, trong thế kỷ 13 Trung Quốc bị Mông Cổ thôn tính trong 90 năm. Năm 1257, quân Mông Cổ đánh Vân Nam và tràn sang Đại Việt.
Trước đó trong chiến dịch Tây Tiến, dưới hiệu kỳ Thành Cát Tư Hăn, quân Mông Cổ đă chiếm giữ vùng Trung Á 6 ngàn dặm đến Hung Gia Lợi và nước Nga tại Bắc Âu và Ba Tư tại Nam Á. Ngoài ra họ c̣n thôn tính nước Tây Hạ phía tây bắc, nước Kim phía đông bắc rồi tràn sang Triều Tiên. Sau khi dẹp nhà Tống và đặt nền thống trị tại Trung Quốc, Mông Cổ đánh chiếm nước Đại Lư hay Vân Nam Phủ. Tuy nhiên, tại Đại Việt, với quân dân một ḷng, năm 1257 nhà Trần đă đánh tan quân Mông Cổ tại Đông Bộ Đầu phía đông Sông Nhị Hà. Đây là chiến thắng đầu tiên của Đại Việt đối với nhà Nguyên.
27 năm sau, năm 1284, con Nguyên Chủ là Thái Tử Thoát Hoan kéo quân sang báo thù.
Trong Hội Nghị Diên Hồng các bô lăo đồng thanh xin đánh. Dưới sự lănh đạo của Trần Hưng Đạo, chỉ trong ṿng 6 tháng, từ tháng 12 năm 1284 đến tháng 6 năm 1285, quân Đại Việt đă đánh đuổi quân Mông Cổ ra ngoài bờ cơi. Toa Đô bị bắn chết, Ô Mă Nhi bị đuổi quá gấp phải một ḿnh chạy trốn bằng thuyền, trong khi Thoát Hoan phải chui ống đồng lên xe tháo chạy về Tầu.
Thời gian này Hốt Tất Liệt đă có kế hoạch thôn tính quần đảo Phù Tang. Nay quân Thoát Hoan đại bại kéo về, Nguyên Chủ phải đ́nh chỉ kế hoạch Đông Tiến. Và hai năm sau, đầu năm 1287 Thoát Hoan lại tập trung lực lượng kéo quân sang Đại Việt để báo thù lần thứ hai.
Tuy nhiên, cũng như lần trước, chỉ trong ṿng một năm quân Mông Cổ đă mua lấy thất bại. Ô Mă Nhi lần này bị bắt sống. Sau đó Trần Hưng Đạo, Trần Nhật Duật, Nguyễn Khoái và Phạm Ngũ Lăo đại phá quân Nguyên tại Bạch Đằng Giang khiến Thoát Hoan phải thu tàn binh tháo chạy về Yên Kinh. Và tại Thăng Long Trần Nhân Tông đem các tướng nhà Nguyên bị bắt như Ô Mă Nhi và Phàn Tiếp làm lễ hiến phù tại Chiêu Lăng.
Đây là một vinh quang của Đại Việt đă ba lần đơn phương phá vỡ kế hoạch Nam Tiến (tại Việt Nam), đồng thời ngăn cản cuộc Đông Tiến (tại Nhật Bản) của đoàn quân Mông Cổ nổi danh là bách chiến bách thắng từ đời Thành Cát Tư Hăn.
Sau ba phen thất bại, Nhà Nguyên không c̣n ḍm ngó Việt Nam cả trên lục địa đến các hải đảo. Và trong các thế kỷ 13 và 14, theo chính sử, quân Mông Cổ không xâm chiếm các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Theo cuốn Tranh Chấp tại Biển Nam Hoa của Marwyn Samuels “Trong suốt thế kỷ 14 các đội hải thuyền hùng mạnh của nhà Nguyên có đi tuần tiễu, nhưng tại Biển Nam Hoa các hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa không bị chiếm đóng và không thuộc chủ quyền lănh thổ của Trung Quốc” (sách đă dẫn, trang 20).
Nguyên Sử cũng xác nhận điều đó.
Cũng như các sách sử địa đời Nhà Thanh, cuốn Nguyên Sử Địa Lư Chí đă viết như sau: “Cương vực Trung Quốc đời Nhà Nguyên về phía Nam chỉ đến Đảo Hải Nam, và về phía Bắc không quá Sa Mạc Gobi”.
4. Đời Nhà Tống, cũng như trong thế kỷ 13 đời Nhà Nguyên, trong hai thế kỷ thứ 10 và 11, quân Đại Việt cũng đă 3 lần đánh thắng quân Nhà Tống.
Trước hết, đời Tiền Lê, năm 981 Lê Đại Hành phá tan hải quân của Lưu Trừng nhà Tống tại Bạch Đằng Giang.
Đến đời Nhà Lư, năm 1075, Lư Thường Kiệt và Tôn Đản vây hăm quân Nhà Tống tại Châu Liêm, Châu Khâm (Quảng Đông) vả Châu Ung (Quảng Tây). Qua năm 1076, một lần nữa, Lư Thường Kiệt lại đánh bại hải quân Nhà Tống trên sông Như Nguyệt và sông Phú Lương.
Sau 3 phen thất bại, theo tŕnh tấu của hoàng thân Triệu Nhữ Quát, vua Tống Thần Tông đă phải theo chính sách Trọng Vơ Ái Nhân (thận trọng việc vơ bị, thương xót mạng người, không phơi binh nơi lam chướng). Và đă thừa nhận nền độc lập của Đại Việt.
Sách Chư Phiên Chí của Triệu Nhữ Quát nh́n nhận rằng quần đảo Hoàng Sa mà tác giả gọi là Thiên Lư Trường Sa (Băi Cát Dài Ngàn Dặm) là đất của nước phiên thuộc Việt Nam, chứ không thuộc lănh thổ của Trung Quốc.
Trong đời Nam Tống cuốn Lĩnh Ngoại Đại Đáp của Châu Khứ Phi cũng xác nhận: “Vạn Lư Trường Sa (Hoàng Sa) tọa lạc tại Giao Chỉ Dương”.
Nói tóm lại các sách sử địa Nhà Tống không bao giờ ghi chép rằng Trung Quốc đă chiếm hữu các hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa như Chính Phủ Bắc Kinh đă xuyên tạc trong “Bản Chú Giải về Đảo Nam Uy và Quần Đảo Tây Sa”ngày 1-tháng 9-1951.
5. Đời Nhà Đường sách Đường Thư Nghệ Văn Chí có đề cập đến cuốn Giao Châu Dị Vật Chí của Dương Phu trong đó tác giả tường thuật những việc kỳ dị và những nơi kỳ dị tại Giao Châu (Việt Nam). Như tại Thất Châu Dương (Nhóm An Vĩnh, Hoàng Sa) là nơi có nhiêu từ thạch hay đá nam châm khiến các thuyền ngoại dương có đóng chốt sắt không đi qua được. Đây có sự thừa nhận các đảo Hoàng Sa là thành phần của Việt Nam .
Ngoài ra sách Tứ Di Lộ Tŕnh do Giă Đàm đời Đường khi ghi lộ tŕnh hay hải đạo Hongkong-Tân Gia Ba cũng không ghi các hải đảo Hoàng Sa, Trường Sa hay các danh xưng Tây Sa, Nam Sa.
Kế tiếp đời nhà Đường là đời Ngũ Đại Thập Quốc (907-960). Đây là một giai đoạn lịch sử phân hóa và suy yếu. Thừa dịp này, năm 939 Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán để giành lại chủ quyền độc lập cho Việt Nam.
6. Đời Nhà Hán, trong cuốn Chư Phiên Chí, sử gia Triệu Nhữ Quát đời Nhà Tống đă xác nhận nhiều sự kiện lịch sử đáng ghi nhớ như sau:
Năm 111 Trước Công Nguyên, sau khi thôn tính Nam Việt “Hán Vũ Đế sai quân vượt biển sang chiếm đất của địch quân (Nam Việt) và đặt ra hai quận Châu Nhai và Đạm Nhĩ (Đảo Hải Nam ). Trong thế kỷ thứ nhất Trước C.N. Hán Nguyên Đế đă rút quân khỏi đảo Hải Nam, măi tới đời nhà Lương và nhà Tùy (cuối thế kỷ thứ 6 và đầu thế kỷ thứ 7) mới đặt lại quyền cai trị”.
Như đă tŕnh bày, đến cuối đời Nhà Thanh vào đầu thế kỷ 20, biên cương của Trung Quốc về phía Nam chỉ chạy tới quận Quỳnh Châu đảo Hải Nam tại vĩ tuyến 18.
Tổng kết lại, về mặt chính sử, trong suốt 22 thế kỷ, từ các đời Tần Hán đến sau Thế Chiến II, không thấy tài liệu nào, hay nói rơ hơn, không có câu nào ghi rằng Biển Đông Hải với Hoàng Sa Trường Sa thuộc chủ quyền của Trung Quốc.
Măi tới năm 1951 nhân kỳ Hội Nghị Ḥa B́nh San Francisco 1951, lần đầu tiên Chính Phủ Bắc Kinh mới đưa ra Công Bố ngày 1-9-1951 đ̣i chủ quyền lănh thổ tại các hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đó là Bản Chú Giải về Đảo Nam Uy và Quần Đảo Tây Sa theo đó “đảo Nam Uy cùng toàn thể các quần đảo Nam Sa và Tây Sa đều là lănh thổ của Trung Quốc, các tài liệu lịch sử liên quan đến các quần đảo này có từ đời nhà Tống”. (Notes on the Nanwei and Sisha Islands, People’s China, Foreign Language Press, 9-1-1951).
Tuy nhiên lịch sử Trung Quốc đă không ghi nhận như vậy. Như đă tŕnh bày, cuốn Lĩnh Ngoại Đại Đáp của sử gia Chu Khứ Phi đời Nhà Tống cũng gọi vùng biển Hoàng Sa Trường Sa là Giao Chỉ Dương (biển của nước Giao Chỉ tức Việt Nam đời Nhà Hán).
Qua năm 1956 khi Phi Luật Tân đ̣i chủ quyền các hải đảo Thái B́nh (Itu Aba) và Trường Sa (Spratly), ngày 29-5-1956 Chính Phủ Đài Bắc đă lên tiếng phản kháng và chủ trương rằng các hải đảo này đă thuộc chủ quyền lănh thổ của Trung Quốc từ đời nhà Minh trong thế kỷ 15.
Tuy nhiên cũng như Bản Công Bố Chủ Quyền của Bắc Kinh năm 1951, Bản Phản Kháng Phi Luật Tân năm 1956 của Đài Bắc không viện dẫn được bằng chứng cụ thể nào về pháp lư, địa lư hay lịch sử để chứng minh chủ quyền của Trung Quốc tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Cả hai Chính Phủ Trung Hoa chỉ quả quyết suông rằng Biển Nam Hoa là Biển Lịch Sử của Trung Quốc từ các đời Hán Vũ Đế, Tống Thần Tông hay Minh Thành Tổ.
Trên thực tế đây chỉ là âm mưu của Chính Phủ Bắc Kinh nhằm khôi phục chủ nghĩa bá quyền Trung Quốc do Mao Trạch Đông tái phát động từ cuối thập niên 1950. Và để thi đua tranh thủ nhân tâm, Chính Phủ Đài Loan cũng phụ họa luận điệu này. Mặc dầu, như đă tŕnh bày, cho tới tháng 2-1955 Tổng Thống Trung Hoa Dân Quốc Tưởng Giới Thạch vẫn xác nhận giá trị Tuyên Cáo Cairo 1943 trong đó Trung Quốc khước từ chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa.
8. Phục Hồi Chủ Nghĩa Đại Hán
Tháng 5-2008 trên tạp chí Duyệt Lại Nền Kinh Tế Tại Viễn Đông (Far Eastern Economic Review), học giả Micheal A. Ledeen trong Viện Nghiên Cứu Chính Sách của Hoa Kỳ đă mệnh danh chính sách bá quyền của Trung Quốc hiện nay là Chủ Nghĩa Phát Xít Cổ Điển (Beijing Embraces Classical Fascism).
Theo tác giả, thay v́ tiếp thu chủ nghĩa đa nguyên theo sự mong đợi của mọi người, giới lănh đạo Trung Quốc càng ngày càng trở nên giáo điều và bảo thủ. Cũng như tại Ư Đại Lợi 50 năm sau Cách Mạng Phát Xít, Nhà Nước Ư vẫn giữ nguyên chế độ độc tài và chủ yếu vẫn đàn áp chính trị. Để biện minh cho chế độ, họ đă nêu lên quan hệ về sự vinh quang cổ xưa của dân tộc Ư thời Đế Quốc La Mă. Ngày nay, để phỏng theo Chủ Nghĩa Phát Xít Cổ Điển Ư, Bắc Kinh cũng đề xướng “Dân Tộc Hán Vĩ Đại”. Mục đích để giữ chặt quyền lực chính trị hầu phục hồi Đế Quốc Đại Hán.
Đây chính là Chủ Nghĩa Đại Hán được xây dựng và phục hồi. Với “tứ hiện đại hóa” Trung Quốc ngày nay đă biểu lộ tính hiếu chiến trong chính sách bành trướng cả về kinh tế lẫn chủ quyền lănh thổ. Quân đội Trung Quốc đang tăng cường sức mạnh để hy vọng có ngày đủ phương tiện nhằm lọai trừ hay pḥng ngừa sự can thiệp của Hoa Kỳ tại Á Châu Thái B́nh Dương. Trong khi chờ đợi họ phóng kim ngân để tích cực vận dụng thông tin tuyên truyển hầu giành cảm t́nh và sự thán phục của các quốc gia trên thế giới. Sau đó, theo truyền thống và tự hào lịch sử, họ sẽ bước vào giai đoạn đối đầu với phe Dân Chủ Tây Phương. Họ kỳ vọng rằng với quyết tâm và phát triển kinh tế, hệ thống Trung Quốc sẽ nổi bật trên thế giới khiến các quốc gia khác phải khâm phục và mặc nhiên chấp thuận để họ thôn tính các vùng lănh thổ và hải đảo tại Á Châu.
Những nhận định nói trên của kư giả Micheal A. Ledeen cũng là những nhận định của Tiến Sĩ Lo Chi-Kin từ Hong Kong trong Luận Án Tiến Sĩ đệ tŕnh Đại Học Kinh Tế Chính Trị Luân Đôn năm 1986 : Đối với Trung Quốc, những lănh thổ phụ dung trước kia đă được Trung Quốc chinh phục và khai hóa, nay phải trả lại (Trung Quốc) văn minh chứ không thể thuộc về phe (Đế Quốc) dă man (Territory once won for civilization must not be given back to barbarism: Chi-Kin Lo, China’s Policy Towards Territorial Disputes, Routledge London, 1989).
Trong thập niên 1960 khi phát động Cách Mạng Văn Hóa, Trung Quốc đă viện dẫn nguyên tắc này để giành giật chủ quyền lănh thổ trong Chiến Tranh Biên Giới Ấn-Hoa. Lúc này chính sách ngoại giao của Bắc Kinh nhằm thu hồi toàn vẹn chủ quyền lănh thổ của Đế Quốc Trung Hoa thời cực thịnh. Đó là quan niệm “trật tự thế giới theo truyền thống Trung Quốc”.
Từ sau Chiến Tranh Biên Giới Hoa-Ấn năm 1962, mọi người nh́n rơ tham vọng không bao giờ thỏa măn của Trung Quốc muốn đ̣i những lănh thổ mà họ đă thôn tính trong lịch sử. Chính sách này được phổ biến năm 1954 trong cuốn “Lược Sử Tân Trung Quốc” có kèm theo bản đồ, nhắc lại lời Mao Trạch Đông: “Tất cả các lănh thổ và hải đảo thuộc khu vực ảnh hưởng của Trung Quốc đă từng bị phe Đế Quốc Tây Phương và Nhật Bản chiếm đoạt từ giữa thế kỷ 19 đến sau Thế Chiến I, như Ngoại Mông, Triều Tiên, “An Nam”, Mă Lai, Thái Lan, Miến Điện, Bhutan, Nepal, Ladakh, Hồng Kông, Macao, cùng những hải đảo Thái B́nh Dương như Đài Loan, Bành Hồ, Ryukyu, Sakhalin, phải được giao hoàn cho Trung Quốc”.
Đây là khát vọng bá quyền của Trung Quốc không bao giờ thỏa măn. Đế Quốc Ngai Rồng phát hiện từ các đời Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế và Minh Thành Tổ đă được Mao Trạch Đông chủ trương phục hồi từ 1955.
Trong cuốn Cách Mạng Trung Quốc và Lịch Sử Đảng Cộng Sản Trung Quốc xuất bản sau năm 1949 có đoạn như sau:
“Sau khi đánh bại Trung Quốc trong chiến tranh vơ trang, các đế quốc đă thôn tính nhiều nước phụ dung của Trung Quốc: Nhật Bản chiếm Triều Tiên, Đài Loan, Bành Hồ, các đảo Ryukyu, và Port Arthur. Anh chiếm Miến Điện, Bhutan, Nepal và Hong Kong; Pháp chiếm “An Nam”; và ngay cả một quốc gia vô nghĩa như Bồ Đào Nha cũng chiếm Macao”.
(In earlier days, especially in the immediate aftermath of the Sino-Indian border war of 1962, a popular interpretation of China ’s policies towards territorial disputes was that they were dictated by insatiable irredentist ambitions. It has been claimed that it is the belief of the Chinese that territory once won for civilization must not be given back to barbarism. Therefore territory which was once Chinese must forever remain so, and, if lost, must be recovered at the first opportunity C. P. Fitzgerald, The Chinese View of Foreign Relations, 1963.
In defeating China in war, the imperial states have taken away many Chinese dependent states and a part of her territories. Japan took away Korea , Taiwan , the Ryukyu Islands , the Pescadores and Port Arthur ; Britain seized Burma , Bhutan , Nepal and Hongkong; France occupied “ Annam ”; and even an insignificant country like Portugal took Macao .
Mao’s remark is believed to have lent weight to the irredentist interpretation of China ’s territorial policies. Guy Searls, Communist China’s Border Policy, Dragon Throne Inperialism? Hongkong 1963).
(Irredentist interpretation means an advocate of the recovery of lands of which his nation has been deprived, or, of territory historically or culturally related to his nation but now subject to a foreign government).
Nhận định nói trên của họ Mao đă yểm trợ cho chính sách thổ địa của Trung Hoa với quan niệm cực đoan cho rằng, về phương diện lịch sử và văn hóa, bất cứ lănh thổ nào trước kia thuộc ảnh hưởng Trung Quốc hiện bị các đế quốc (Tây Phương) xâm chiếm, nay phải giao hoàn cho Trung Quốc.
Riêng tại Việt Nam và vùng Biển Đông Nam Á, Trung Hoa đề ra thuyết Biển Lịch Sử và chủ trương rằng họ đă viện dẫn rất nhiều tài liệu lịch sử từ thời cổ xưa cho biết họ đă khám phá và chiếm cứ những hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Do đó họ tự cho có ưu thế trên lănh vực lịch sử và khẳng định rằng chủ quyền của Trung Quốc tại các quần đảo trong Biển Nam Hoa là vấn đề “bất khả tranh nghị” (Both contentions are strong: the ancient title based on immemorial possession or discovery- occupation).
Điều đáng lưu ư là Bắc Kinh mới chỉ chính thức lên tiếng đ̣i chủ quyền tại Biển Đông Hải ngày 1-9-1951 viện cớ họ đă chiếm cứ Hoàng Sa Trường Sa từ đời Nhà Tống (thế kỷ thứ 10).
Trong khi đó, 5 năm sau, ngày 29-5-1956, trong bản kháng nghị Phi Luật Tân tại Trường Sa, Đài Bắc lại chủ trương rằng Trung Quốc chỉ thủ đắc chủ quyền các hải đảo này từ đời Nhà Minh (thế kỷ 15).
Trong mọi trường hợp, người Trung Hoa, dầu là quốc gia hay cộng sản vẫn chỉ căn cứ vào những tài liệu ngoại sử, vào thuyết Biển Lịch Sử và thuyết Thủ Đắc Chủ Quyền do Khám Phá và do Chiếm Cứ. Họ chủ quan cho đó là lập trường ưu thắng không ai có thể phủ nhận hay bác bỏ.
Nếu quả thật muốn trung thành với chủ trương phải giao hoàn các lănh thổ bị lấn chiếm do chiến tranh vơ trang, th́ trước hết Trung Quốc phải giao hoàn cho Việt Nam toàn thể lănh thổ nước Nam Việt do Triệu Vũ Vương thiết lập năm 207 Trước C. N. bao gồm vùng trung nguyên Trung Quốc với các tỉnh Hồ Nam, Quảng Đông, Quảng Tây, đảo Hải Nam và Việt Nam. Năm 181 Trước C. N., sau khi đánh thắng quân Tây Hán tại quận Trường Sa, Triệu Vũ Vương xưng đế hiệu là Nam Việt Hoàng Đế, ngang hàng với Hán Cao Tổ tại miền Bắc. Năm 157 Hán Văn Đế sai Lục Giả đưa quốc thư khuyến dụ Triệu Vũ Đế từ bỏ đế hiệu với lời cam kết sẽ để Triệu Vũ Vương được toàn quyền cai trị vùng trung nguyên Trung Quốc từ Ngũ Lĩnh đến bờ biển Việt Nam. Tuy nhiên năm 111 Trước C. N. Hán Vũ Đế đă phản bội cam kết của các tổ phụ và tiên vương nhà Tây Hán như Hán Cao Tổ và Hán Văn Đế. Và đă đem quân thôn tính Nam Việt nhằm Hán hóa vùng lănh thổ này, mặc dầu Nam Việt có nền văn hóa và văn minh khác biệt với các dân tộc du mục miền Bắc. Đó cũng là nhận định của Giáo Sư C. P. Fitzgerald tại Đại Học Oxford: “Trong trường hợp nước Nam Việt giữ vững chủ quyền độc lập với nền văn hóa đặc thù của Miền Nam, th́ dầu nhà Hán có chiếm được miền Quảng Châu và Vân Nam, họ cũng sẽ không thành công trong việc thiết lập ảnh hưởng tại vùng châu thổ Sông Tây Giang phía đông nam Trung Quốc”. (Had Nan Yueh remained independent, it is very possible a separate culture would have arisen in the south, and the Chinese might never have established their influence in the valley of West River. C. P. Fitzgerald: China, A Short Cultural History, Oxford University Press 1953, p.184).
Điều nghịch lư là, dầu quả quyết nắm chắc phần thắng trong tay, Trung Quốc không bao giờ dám công khai đưa vấn đề tranh chấp chủ quyền hải đảo và hải phận tại Biển Đông Nam Á ra trước các cơ quan trọng tài quốc tế, kể cả các cơ quan điều giải do các quốc gia đệ tam vô tư phụ trách.
(Ironically, despite most of the existing studies having found in favour of China ’s position over to islands, it appears that China has been most reluctant to subject the disputes to international legal arbitration. Chi-Kin Lo. Ibid).
Ngay từ năm 1932, trong vụ tranh chấp về quyền khai thác phốt phát trên quần đảo Hoàng Sa, đại diện Việt Nam, Chính Phủ Pháp đă viện dẫn những tài liệu lịch sử để xác định chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo này. Để tỏ thiện chí ḥa giải, Pháp đề nghị đưa vụ tranh chấp Hoàng Sa ra trước Ṭa Án Quốc Tế là cơ quan tư pháp tối cao có thẩm quyền công bố những quan điểm tham vấn (consultative opinions). Tuy nhiên Trung Quốc đă tránh né và không dám công khai tŕnh bầy những quan điểm pháp lư và những tài liệu lịch sử mà họ thường phô trương. (Báo cáo của Toàn Quyền Đông Dương Pierre Pasquier năm 1932 hiện lưu trữ tại Văn Khố Bộ Ngoại Giao Pháp).
Ngày nay chúng ta thách thức Trung Quốc công khai đưa vụ tranh chấp chủ quyền các hải đảo và hải phận tại Biển Đông Hải ra trước các cơ quan tài phán, trọng tài, ḥa giải hay tham vấn theo thủ tục quốc tế (international litigation, arbitration, legal mediation or judicial consultation) .
Giáo Sư Fairbank tại Đại Học Harvard và Giáo Sư Fitzgerald tại Đại Học Oxford cho rằng Trung Quốc vẫn chủ trương duy tŕ một trật tự thế giới nhằm tái lập vai tṛ bá chủ truyền thống của họ. Quá tŕnh lịch sử của Trung Quốc đă ảnh hưởng quyết định đến chính sách đối ngoại hiện nay của Bắc Kinh. Họ chỉ giảo hoạt nương theo trào lưu tiến hóa lịch sử để duy tŕ địa vị và uy thế, bất kể những mục tiêu tinh thần của Liên Hiệp Quốc như b́nh đẳng, hợp tác và hữu nghị giữa các quốc gia hội viên trên thế giới.
(Some historians like Fairbank and Fitzgerald believe in the existence of a Chinese traditional world order, or a traditional view of “their place in the world”. This historical legacy continues to exert an important influence on China ’s foreign policy today. In Fitzgerald’s words “the Chinese view of the world has not fundamentally changed: it has been adjusted to take account of the modern world, but only so far as to permit China to occupy, still, the central place in the picture”, C. P. Fitzgerald, The Chinese View of Their Place in the World: Oxford University Press 1964: 68-72. J. K. Fairbank, The Chinese World Order, Harvard University Press, 1968 and China’s World Order, Encounter, December 1968:14-20).
Hiện nay, tại vùng Biển Đông Nam Á, rập theo tham vọng của Đế Quốc La Mă hồi thế kỷ thứ nhất coi Địa Trung Hải là Biển Lịch Sử La Mă, Bắc Kinh cũng đưa ra thuyết Biển Lịch Sử hay Lưỡi Rồng Trung Quốc và coi đó là mục tiêu chiến lược từ sau Thế Chiến II. Nhất là từ 1982 khi Trung Quốc kư Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển tại Montego Bay , Jamaica .
Tuy nhiên thuyết Biển Lịch Sử ngày nay đă lỗi thời. Nó đi trái những điều khoản của Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển và đi trái Luật Tục Lệ Quốc Tế của Ṭa Án Quốc Tế The Hague.
9. Biển Lịch Sử và Thuyết Thủ Đắc Chủ Quyền
Trong suốt 22 thế kỷ, từ các đời Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế, Tống Thần Tông, Minh Thành Tổ đến giữa thế kỷ 20 (năm 1951), Trung Quốc không bao giờ lên tiếng đ̣i chủ quyền các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (mà họ gọi là Tây Sa và Nam Sa). Họ khẳng định đó là một vấn đề “bất khả tranh nghị”. Để tránh né mọi cuộc tranh luận công khai trước các cơ quan điều giải, trọng tài hay tố tụng. Lư do là v́ họ không đưa ra được quan điểm pháp lư hay một bằng chứng lịch sử khả tín nào cho thấy họ có chủ quyền tại các quần đảo này.
Năm 1982, sau khi kư Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, Bắc Kinh tập hợp 400 học giả, ngày đêm nghiên cứu, thảo luận trong suốt 10 năm để kết luận rằng “Biển Nam Hoa là Biển Lịch Sử của Trung Quốc từ hàng ngàn năm nay”. Rồi họ hội nghị với 100 nhà trí thức Đài Loan để xác định chủ trương này.
Tuy nhiên về mặt Công Pháp Quốc Tế, chiếu án lệ của Ṭa Án Quốc Tế The Hague, muốn có Biển Lịch Sử phải hội đủ 3 điều kiện:
1) Phải có sự hành sử chủ quyền;
2) Một cách liên tục và trường kỳ; và
3) Được sự thừa nhận của các quốc gia duyên hải, đặc biệt là các quốc gia tiếp cận và đối diện.
Dầu sao Ṭa Án Quốc Tế đă định nghĩa “biển lịch sử là nội hải”.
Năm 1982 Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển đă kết thúc mọi cuộc tranh luận khi quy định trong Điều 8 như sau:
“Ngoại trừ trường hợp các quốc gia quần đảo [như Phi Luật Tân hay Nhật Bản] Biển Lịch Sử hay nội hải của một quốc gia nằm bên trong đất liền, về phía bên trong đường cơ sở của biển lănh thổ. The International Court of Justice has defined historic waters as “internal water” (Fisherys cases UK vs. Norway, 1951, I. C. J. 116, 130); “Waters on the landward side of the baseline of the territorial sea form part of the internal water of the State” (Art. 8 LOS Convention 1982).
Ngoài ra Trung Quốc c̣n nêu lên thuyết Thủ Đắc Chủ Quyền các đất vô chủ, thủ đắc do khám phá và thủ đắc do chiếm cứ.
A. Thủ Đắc do Khám Phá (Acquisition by Discovery).
Theo các tài liệu do Bắc Kinh xuất tŕnh, từ hơn 2000 năm nay, dưới đời nhà Hán, với 100 ngàn hải quân, Đô Đốc Yang Pu đă khám phá các hải đảo tại Biển Nam Hoa, và do đó đă thủ đắc chủ quyền các hải đảo này.
Lư luận này hoàn toàn vô căn cứ:
1) Trước hết không có tài liệu khách quan vô tư nào kiểm chứng có sự tuần thám của 100 ngàn hải quân Trung Quốc tại các tiểu đảo san hô trên Biển Đông Hải. Có chăng chỉ là đội hải thuyền của Tào Tháo mượn lệnh Hán Đế đi thôn tính Đông Ngô và đă bị Chu Du và Gia Cát Lượng đánh tan trong Trận Xích Bích.
Vả lại, như đă tŕnh bày, trong thế kỷ thứ I Trước C.N, quân Nhà Hán đă rút khỏi đảo Hải Nam cho đến cuối thế kỷ thứ 6 mới đặt lại quyền cai trị.
Hơn nữa, sử sách đời Nhà Thanh c̣n ghi rơ “đến cuối thế kỷ 19, lănh thổ của Trung Quốc chỉ chạy đến đảo Hải Nam tại vĩ tuyến 18 là hết”. Như vậy trong 20 thế kỷ, từ đời Nhà Hán đến đời Nhà Thanh, hải quân Trung Quốc không chiếm hữu các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa tọa lạc về phía nam, từ vĩ tuyến 17 đến vĩ tuyến thứ 8 (Quảng Trị-Cà Mâu).
2) Vả lại kẻ khám phá không đương nhiên là kẻ sở hữu. Hoa Kỳ đă khám phá mặt trăng, treo cờ, lấy đá, chạy xe thử nghiệm và chiếm cứ tượng trưng nhiều lần. Nhưng không phải v́ các hành động này mà Hoa Kỳ có thể tuyên bố: “Mặt trăng thuộc chủ quyền không gian của Hoa Kỳ”.
3) Các nhà thám hiểm hàng hải quốc tế từ thế kỷ 15, như Christopher Columbus khám phá Châu Mỹ, Vasco de Gama khám phá Mũi Hảo Vọng tại Phi Châu và các hoang đảo tại Ấn Độ Dương; Magellan đi xuyên ba đại dương từ Đại Tây Dương vượt Ấn Độ Dương qua Thái B́nh Dương, khám phá quần đảo Phi Luật Tân và hải đảo Guam. Vậy mà Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha cũng không đ̣i chủ quyền các hải đảo này. Cũng trong tinh thần đó, năm 1867 Hải Quân Anh đă phát hiện Quần Đảo Trường Sa và đặt tên là Spratleys. Vậy mà Anh Quốc cũng không đ̣i chủ quyền các hải đảo này, dầu rằng, theo Tuyên Ngôn Potsdam 1945, Anh Quốc được Đồng Minh trao nghĩa vụ giải giới Quân Đội Nhật tại Spratleys.
4) Vẫn theo tinh thần đó, khám phá ra Bắc Cực, Nam Cực, rồi cắm cờ, dựng bia kỷ niệm cũng không có hiệu lực ban bố chủ quyền cho người chinh phục.
B. Thủ Đắc do Chiếm Cứ (Acquisition by Occupation)
Theo công pháp quốc tế, muốn thủ đắc chủ quyền các đất vô chủ (terra nullius), sự chiếm cứ phải có những đặc tính sau đây:
1) Chiếm cứ thực sự.
Tại Trường Sa trong số các đảo, cồn, đá, băi có danh xưng quốc tế, Trung Quốc chiếm 8 đơn vị, Đài Loan chiếm đảo Ba B́nh hay Thái B́nh, trong khi Việt Nam chiếm 21 đảo và Phi Luật Tân chiếm 8 đảo..
2) Chiếm cứ công khai.
Sự chiếm cứ phải có tính công khai, không thể ngấm ngầm như trường hợp Trung Quốc lấn chiếm và xây công sự tại đá ch́m Mischief trên thềm lục địa Phi Luật Tân năm 1995.
3) Chiếm cứ ḥa b́nh.
Không có sự chối căi rằng trong năm 1956 hải quân Trung Quốc đă chiếm cứ vơ trang 7 đảo Hoàng Sa thuộc Nhóm An Vĩnh phía đông bắc.
Năm 1974 Trung Quốc lại dùng vơ lực xâm chiếm 6 hải đảo Hoàng Sa thuộc Nhóm Lưỡi Liềm phía tây nam.
Năm 1988, lần đầu tiên hải quân Trung Quốc tấn công vơ trang các đảo Trường Sa, và đă chiếm Đá Chữ Thập và Đá Gaven cùng một số đá ch́m và băi ngầm.
Năm 1992, Trung Quốc lại dùng vơ lực xâm chiếm Băi Vạn An trên Thềm Lục Địa Việt Nam phía đông nam các Băi Thanh Long và Tứ Chính.
Những vụ chiếm cứ này không có tính ḥa b́nh mà do xâm lăng vơ trang nên không được luật pháp và ṭa án bảo vệ. V́ nó đi trái Điều 2 Hiến Chương Liên Hiệp Quốc. Cũng như thời Thế Chiến II, Nhật Bản đă chiếm cứ Hoàng Sa và Trường Sa bằng vơ lực nên không có tư cách chủ quyền hợp pháp.
4) Chiếm cứ liên tục và trường kỳ
Cho đến năm 1951 Trung Quốc không bao giờ lên tiếng đ̣i chủ quyền lănh thổ tại Hoàng Sa và Trường Sa.
Trong khi đó, ít nhất từ 1816 dưới đời Vua Gia Long, Việt Nam đă chiếm cứ công khai, liên tục, ḥa b́nh các hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Bia chủ quyền do người Pháp dựng năm 1938 có ghi:
République Francaise (Cộng Ḥa Pháp)
Empire D’Annam (Vương Quốc Việt Nam )
Archipel des Paracels (Quần Đảo Hoàng Sa)
1816 -Ile de Pattle- l938 (Đảo Hoàng Sa)
Chiếm cứ năm 1816 và dựng bia năm 1938)
Các căn cứ quân sự của người Pháp được thiết lập từ đầu thập niên l930. Đài Khí Tượng Hoàng Sa mang số 48860 thuộc Tổ Chức Khí Tượng Thế Giới bắt đầu hoạt động từ 1938. Trước đó, trong thập niên 1920, Công Ty Phosphate Bắc Kỳ đă khởi sự khai thác phân chim. Ngoài ra c̣n có hải đăng, Miễu Bà, Nhà Thờ Thiên Chúa, cầu tàu và các nhà cửa công sự xây cất với sự đồn trú của Đội Pḥng Vệ Đông Dương và của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa. Sự chiếm cứ này có tính công khai, ḥa b́nh, trường kỳ và liên tục cho đến 1956 và 1974 khi hải quân Trung Quốc xâm lăng.
Lịch sử Trung Quốc không mang lại bằng chứng khách quan vô tư nào cho biết họ đă liên tục chiếm cứ, công bố và hành sự chủ quyền tại Hoàng Sa, Trường Sa từ các đời Hán Vũ Đế, Tống Thần Tông, Minh Thành Tổ hay Càn Long. Nếu chỉ có một số ngư dân lẻ tẻ từ đảo Hải Nam đến đánh cá theo mùa th́ cũng không có sự công bố và hành sử chủ quyền của Nhà Nước Trung Hoa.
5) Hơn nữa sự chiếm cứ phải được sự thừa nhận của các quốc gia liên hệ.
Như đă tŕnh bày, năm l951, 51 quốc gia đồng minh họp Hội Nghị Ḥa B́nh Cựu Kim Sơn để kư Hiệp Ước Ḥa B́nh Nhật Bản, trong đó Nhật Bản từ bỏ chủ quyền về Hoàng Sa Trường Sa nhưng không nói để trả cho nước nào. Ngoại Trưởng Liên Sô yêu cầu Hội Nghị biểu quyết trao Hoàng Sa Trường Sa cho Trung Quốc. Nhưng Hội Nghị đă bác bỏ thỉnh cầu này với 46 phiếu chống và 3 phiếu thuận . Sau đó Thủ Tướng kiêm Ngoại Trưởng Quốc Gia Việt Nam lên diễn đàn công khai tuyên bố chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa Trường Sa và không gặp sự phản kháng nào.
Sự thừa nhận chủ quyền hải đảo chỉ có ư nghĩa nếu xuất phát từ các quốc gia duyên hải đối diện và tiếp cận. V́ các đảo này tọa lạc tại Biển Đông Nam Á, nên chỉ các quốc gia Đông Nam Á mới có thẩm quyền thừa nhận. Mà cho đến nay trong tất cả các quốc gia Đông Nam Á không một nước nào thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa và Trường Sa.
Điều đáng lưu ư là, cho đến những năm 1956, 1974, 1988 và 1992 các đảo Hoàng Sa và Trường Sa đă do Việt Nam chiếm cứ công khai, ḥa b́nh và liên tục nên không thể coi đó là đất vô chủ. (terra nullius)
Như vậy thuyết Thủ Đắc Chủ Quyền do Khám Phá hay do Chiếm Cứ do Trung Quốc viện dẫn đă trở thành vô dụng. Nó chỉ dựa vào những lời tuyên bố suông, những khẩu thuyết vô bằng. Hơn nữa nó vi phạm nghiêm trọng các điều khoản trong Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và trong Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển đồng thời vi phạm chủ quyền lănh thổ của Việt Nam.
Do đó, về mặt công pháp quốc tế, Thuyết Biển Lịch Sử không c̣n là một vấn đề tranh nghị tại các cơ quan trọng tài hay các Ṭa Án Luật Biển. V́ thuyết này đi trái với Luật Tục Lệ Quốc Tế của Ṭa Án Quốc Tế và đă bị Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển bác bỏ trong Điều 8.
V́ biết rơ điều đó nên Trung Quốc không bao giờ dám đưa vụ tranh chấp hải phận và các hải đảo tại Biển Đông Nam Á ra trước Ṭa Án Quốc Tế, Ṭa Án Luật Biển hay trước các cơ quan Trọng Tài và Điều Giải của Liên Hiệp Quốc.
Trong mọi trường hợp, dầu cực đoan đến mấy, ngày nay Bắc Kinh không c̣n dám yêu sách đ̣i chủ quyền lănh thổ tại một số các quốc gia Đông Á như Triều Tiên, Miến Điện, Nepal, hay Việt Nam mà Mao Trạch Đông thường miệt thị là “nước phụ dung An Nam”
10 - Tín Nghĩa và Quyền Mưu
Muốn hội nhập vào cộng đồng nhân loại văn minh, thay v́ tổ chức các thế vận hội về thể dục thể thao hay các hội chợ thế giới về văn hóa kỹ thuật với tác dụng phô trương tuyên truyền, Bắc Kinh nên trở về với tín nghĩa, pháp lư và đạo lư. Bằng cách tôn trọng danh dự quốc gia và chữ kư của ḿnh để nghiêm chỉnh thực thi Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển mà họ đă kư kết tham gia từ 28 năm nay. Nếu đi ngược trào lưu tiến hóa của nhân loại văn minh và trọng pháp, Trung Quốc sẽ bị các quốc gia trên thế giới chê cười và tẩy chay do thái độ trí trá, tiền hậu bất nhất, nói một đàng làm một nẻo.
Theo các nhà minh triết cổ kim có hai con đường lập quốc:
Lấy tín nghĩa mà lập quốc là theo chính đạo.
Lấy mưu mô quỷ quyệt mà trị nước là theo tà đạo.
Con đường này sẽ đưa đất nước đến suy vong.
(Tín nghĩa lập nhi nhân đạo, quyền mưu lập nhi vong quốc).
Tài liệu soạn cho các sinh viên Việt Nam ở trong nước, các sinh viên Việt Nam tại hải ngoại và các sinh viên Việt Nam du học tại hải ngoại
Mùa Xuân 2010
Luật Sư Nguyễn Hữu Thống
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
ÁNH SÁNG MỚI 2015 ONLINE
TIN TỨC THỜI SỰ CHÍNH TRỊ - TÀI LIỆU TỔNG HỢP 8
anhsangmoi2015.com
anhsangmoi2015.org
Cơ quan ngôn luận của ĐẢNG CÁCH MẠNG B̀NH XĂ VIỆT
Chủ trương và Biên tập : Lư Nguyễn Thiên Quư ( Huyên Chương Quư )
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------