Anh hùng và phản bội
Huy Phuong
March 29, 20110 B́nh Luận“Anh hùng có sá chi thua được,
Tiết nghĩa nào phai với đất trời.”
(Thủ Khoa Huân)
Chúng ta đă biết một nước Nhật anh hùng, người Nhật có trách nhiệm với quần chúng và tổ quốc. Trong chính quyền, các viên chức gây ra sự tổn thất hay tai nạn trong phần trách nhiệm của ḿnh đều tự xử bằng cách nhận lỗi và từ chức.
Seppuku (切腹?, “stomach-cutting”) – harakiri (腹切り) mổ bụngNhững sĩ quan Nhật lúc sa cơ thất trận biết chọn cái chết cho ḿnh để tṛn khí tiết. Trận Okinawa với quân đội Mỹ kéo dài 82 ngày, kết thúc vào tháng 6, 1945, trong những giờ phút cuối cùng biết không giữ nổi đất đai của tổ quốc, ngày 15 tháng 6, trong một hang động lớn, Đại Tá Kanayama, trung đoàn trưởng Trung Đoàn 27BB tập hợp 102 người c̣n lại của trung đoàn. Ông ta làm lễ đốt quân kỳ trung đoàn và nói:
“Trong ba tháng vừa qua, anh em đă cùng tôi chiến đấu. Ḷng dũng cảm, chí hy sinh, sức chịu đựng của anh em, lịch sử sẽ khắc sâu. Nay tôi nói lời cám ơn anh em đă phục vụ quên ḿnh. Giờ đây, tôi tuyên bố giải thể trung đoàn. Từ nay trở đi, anh em không c̣n bị ràng buộc, tôi lănh trách nhiệm về việc này. Riêng tôi, tôi sẽ vĩnh viễn ở lại đây. Nhưng tôi cấm anh em theo tôi. Ra lệnh cho anh em phải sống để kể lại cho hậu thế biết quân đội Nhật Bản đă anh dũng chiến đấu như thế nào ở Okinawa.”
Đoạn Đại Tá Kanayama rút gươm mổ bụng. Đại Úy Sato chặt đầu người chỉ huy theo đúng nghi thức rồi hô to TennMheika banzai! (Thiên Hoàng vạn tuế), dứt tiếng hô, ông chĩa súng lục vào đầu bóp c̣ tự sát.
Cũng trong ngày 21 tháng 6, trong chỉ huy sở của ḿnh tại Mabumi, Tướng Ushijima và mọi người đều hớt tóc, cạo râu. Sau đó ông viết thư tŕnh lên Thiên Hoàng Hiro Hito báo cáo về t́nh h́nh chiến sự tại Okinawa và tạ tội không giữ được đảo. Thư được điện về Bộ Tổng Tham Mưu quân đội Hoàng Gia tại Tokyo. Cuối cùng, ông nói với Đại Tá Yahara:
“Đại Tá Yahara, ông cũng như tôi lẽ ra phải tự sát. Nhưng tôi ra lệnh cho ông ở lại. Nếu ông chết, sau này c̣n ai có thẩm quyền để kể lại về trận chiến Okinawa này. Mặc dù sống sau khi thua trận là nhục nhă, nhưng tư lệnh của ông ra lệnh cho ông phải chịu cái nhục này.”
Yahara do đó là sĩ quan cao cấp bên phía Nhật sống sót sau trận đánh và về sau ông đă cho xuất bản cuốn sách mang tựa đề “Trận Đánh V́ Okinawa.”
Chiều ngày 22 tháng 6, Tướng Ushijima và Tướng Cho quỳ gối hướng về phía Bắc (hướng Hoàng Cung) vái ba vái và tiến hành lễ tự sát. Tướng Cho đưa cổ cho Đại Úy Sakaguchi chém đầu. Tướng Ushijima lấy gươm tự mổ bụng, tiếp theo đó bảy sĩ quan tham mưu cùng tự sát. Ngày 2 tháng 7, trận Okinawa chính thức chấm dứt.
Hai tháng sau trận Okinawa, trong giai đoạn cuối cùng của Đệ II Thế Chiến, Mỹ đă thả hai quả bom nguyên tử xuống hai thành phố Hiroshima and Nagasaki của Nhật Bản, sáu ngày sau, 15 tháng 8, 1945, Nhật Hoàng mới dứt khoát chấp nhận Tuyên ngôn Potsdam, đồng ư đầu hàng. Biết tin này, một số sĩ quan trẻ trong quân đội Nhật định làm đảo chính, định tiêu diệt phái chủ hàng và buộc nhà vua chấp nhận quyết chiến đến cùng. Nhưng cuộc đảo chính đă không xẩy ra, khi lệnh đầu hàng ban ra, nhiều tướng lĩnh và sĩ quan đă tự sát, trong đó có Bộ Trưởng Lục Quân Anami, Đại Tướng cựu Tổng Tham Mưu Trưởng Sugiyama, Đại Tướng Tư Lệnh miền Đông Tanaka…
Vào tháng 4 năm 1975, khi quân đội Cộng Sản đang trên đường tiến vào Nam Vang, người Mỹ đă mời Thủ Tướng Sirik Matak và toàn bộ chính phủ Miên nên ra đi, v́ ở lại th́ sẽ bị Khờ Me Đỏ sát hại. Ngày 16 tháng 4 năm 1975, Thủ Ttướng Sirik Matak đă viết một lá thơ vô cùng cảm động gởi cho đại sứ Mỹ tại Nam Vang là ông John Gunther Dean. Lá thư đầy nghĩa khí và tiết tháo của một người anh hùng “sinh vi tướng, tử vi thần,” nhưng cũng đầy cay đắng như sau:
“Tôi chân thành cám ơn lá thư của quư ông, và ngỏ lời đưa tôi đến bến bờ tự do. Tôi th́ không thể rời bỏ nơi này một cách hèn nhát đến thế. Đối với quư ông và nhất là đối với đất nước nhân hậu này, tôi chưa hề tin rằng quư ông có ư nghĩ từ bỏ một dân tộc muốn t́m chọn tự do. Quư ông đă từ chối bảo vệ chúng tôi và chúng tôi đành bó tay. Quư ông đă rời bỏ chúng tôi, chúng tôi thật ḷng ao ước quư ông và quư quốc sẽ t́m thấy hạnh phúc dưới bầu trời này. Nhưng hăy nhớ rơ điều này, nếu tôi có chết ngay bây giờ, trên mảnh đất mà tôi yêu mến, th́ cũng chỉ v́ mọi người sinh ra rồi sẽ có ngày trở về cát bụi. Tôi chỉ có một lỗi lầm là đă tin vào người Mỹ các ông.
Xin ngài, người bạn quư, nhận nơi đây ḷng biết ơn chân thành của tôi.”(Hoàng Tử Sirik Matak)
Khi Khờ Me Đỏ vào toàn bộ chính phủ Miên đều bị giết, riêng gia đ́nh ông Sirik Matak, từ con cháu đến các người giúp việc trong nhà ông đều bị Khmer Đỏ sát hại.
Trong những ngày cuối cùng của VNCH, trước khi người Mỹ quyết định bỏ mặc cho VNCH tự chiến đấu chống cộng sản, Đại Sứ Martin của Hoa Kỳ đă chính thức gặp Tổng Thống Trần Văn Hương và mời tổng thống rời khỏi nước, đi đến bất cứ xứ nào, ngày giờ nào với phương tiện nào, cũng như hứa sẽ bảo đảm cho tổng thống một đời sống xứng đáng với cương vị tổng thống cho đến ngày trăm tuổi.
Tổng Thống Trần Văn Hương đă trả lời: “Thưa ông đại sứ, tôi biết t́nh trạng hiện nay rất là nguy hiểm. Đă đến đỗi như vậy, Hoa Kỳ cũng có phần trách nhiệm trong đó. Nay ông đại sứ đến mời tôi bỏ nước ra đi, tôi rất cám ơn ông. Nhưng tôi đă suy nghĩ và quyết định dứt khoát ở lại nước tôi. Tôi cũng dư biết Cộng Sản vào được Saigon, bao nhiêu đau khổ nhục nhă sẽ trút xuống đầu dân chúng miền Nam. Tôi là người lănh đạo đứng hàng đầu của họ, tôi t́nh nguyện ở lại để chia sẻ với họ một phần nào niềm đau đớn tủi nhục, nỗi thống khổ của người dân mất nước. Cám ơn ông đại sứ đă đến viếng tôi.”
Ngày 30 tháng 4, 1975, Saigon thất thủ sau khi Tổng Thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng quân Bắc Việt, Quân Đội Việt Nam chúng ta không thiếu anh hùng: bốn tướng lănh VNCH đă tự sát, đó là Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, tư lệnh Vùng 2 Chiến Thuật, Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, tư lệnh Vùng 4 Chiến Thuật, Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, tư lệnh SĐ21BB, Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ, tư lệnh SĐ5BB. Thiếu Tướng Phạm Văn Phú đă dùng độc dược, và ba tướng lănh sau dùng súng ngay tại Bộ Chỉ Huy của ḿnh.
![]()
Tướng PhạmVănPhú Tướng LêVănHưng Tướng Lê Nguyên Vỹ
Tướng NguyễnKhoaNam Tướng Trần Văn Hai
Đại Tá Hồ ngọc Cẩn đă anh dũng chiến đấu tới cùng và không chịu đầu hàng. Đại Tá Cẩn đă bị quân cộng sản đem ra xử trước công cộng và sau đó bị xử bắn tại chỗ.Cũng như Đại Tá Kanayama, trung đoàn trưởng Trung Đoàn 27BB của trận Okinawa, Tướng Vỹ của B́nh Dương đă triệu tập một phiên họp bất thường, thật ngắn ngủi, để giải thích cho mọi người rơ lệnh đầu hàng. Ông nói: “Lệnh bắt chúng ta buông súng bàn giao cho địch, nói thẳng ra là đầu hàng… V́ tôi là một tướng chỉ huy mặt trận, tôi không thể thi hành được lệnh này. Tôi nghĩ thân làm tướng là phần nào đă hưởng vinh dự và ân huệ của Quốc Gia hơn các anh em, nên tôi phải chọn lấy con đường đi riêng cho tôi.”
Cảm thấy nỗi nhục thất trận, không phải chỉ hàng tướng lănh, cấp tá như Trung Tá CSQG Nguyễn Văn Long, đă tự bắn vào đầu, chết dưới chân tượng TQLC trước Quốc Hội, Trung Tá Trần Đ́nh Chi, An Ninh Quân Đội đă tự sát tại văn pḥng ông ở Biên Hoà. Một hạ sĩ quan Quân Cảnh đă kết liễu đời binh nghiệp của ḿnh tại Biệt Khu Thủ Đô, và nhiều binh sĩ Nhảy Dù đă choàng vai vây ṿng tṛn với nhau trên đường lui ở Ngă Ba Ông Tạ, cũng như những toán TQLC trên băi biển Tư Hiền, với những quả lựu đạn mở chốt để cùng chết với nhau.
Quyết định chọn cái chết là khó, nhưng cái chết diễn ra rất nhanh, chọn sự sống là dễ, nhưng sự sống kéo dài làm người ta tủi nhục.
Trong khi đó ngày 7 tháng 5, 1954, Điện Biên Phủ thất thủ, tướng chỉ huy De Castries đă ra đầu hàng, bị bắt làm tù binh và được trao trả sau Hiệp Định Genève. Ông rời quân ngũ năm 1959 và qua đời năm 1991 tại Paris, Pháp. Ông có trở lại thăm chiến trường xưa nhưng không hề ca tụng kẻ thù. Trái lại Đại Tá Bigeard, bị bắt tại Điện Biên Phủ, sau 50 năm đă ca tụng kẻ thù và chê quân đội Pháp. Tương tự như vậy, bên cạnh những hào kiệt đă tuẫn tiết, quân đội chúng ta cũng có những mạt tướng không chịu chết cho đời thương tiếc, mà sống để lại ô danh và tủi nhục cho đồng đội đă hy sinh xuơng máu cho sự nghiệp, chạy về quị lụy ôm chân kẻ thù xưa. Bên cạnh những anh hùng, cũng có những kẻ phản bội.
Chúng ta liên tưởng đến hai câu thơ của Cụ Phan Bội Châu:
Dù lịch sử, cha ông thây kệ
Nhục hay vinh họ kể ǵ đâu!Người xưa đă nói: “Không lấy thành bại mà luận anh hùng.” Nếu hôm nay chúng ta mỗi năm đến ngày 30 tháng 4 c̣n ngẩng mặt nh́n đời được là nhờ hào quang của những người đă chết, rửa mặt cho miền Nam. C̣n chúng ta sống, kéo dài cuộc sống làm sao để cho khỏi hổ thẹn.
Huy Phương
Sẽ Đến Lượt Trung Quốc?
Francis Fukuyama
Is China Next?
Wall Street Journal, 12-03-2011
Người dịch: Nguyễn Quốc Khải
LTG: Theo tác giả, Trung Quốc sẽ không lây “bệnh truyền nhiễm” của Trung Đông một ngày gần đây. Nhưng Trung Quốc rất có thể phải đối phó với những vấn đề trong tương lai. Lư do là cho đến nay, giai cấp trung lưu xem ra bằng ḷng hi sinh tự do chính trị để đổi lấy lợi tức cao và sự ổn định. Nhưng ở một thời điểm nào đó, sự đổi chác này sẽ rất có thể thất bại.
Một số tác giả khác cũng đă đóng góp những bài nghiên cứu đáng chú ư về “Cách Mạng Hoa Nhài” như Jean-Pierre Cabestan, Barry Eichengreen, Duncan Green, Huguette Labelle, và Dani Rodrik. Ư kiến của những học giả này đă được người dịch trích dẫn trong bài tham luận “Những Lư Do Nào Đưa Đến Cuộc Cách Mạng Hoa Nhài?”
Ông Francis Fukuyama là học giả kỳ cựu tại Freeman Spogli Institute for International Studies thuộc Standford University ở California, Hoa Kỳ. Trước đây ông đă giảng dậy nhiều năm tại George Mason University và Johns Hopkins University. Ông từng theo học tại Cornell và Yale và tốt nghiệp với bằng Tiến Sĩ Chính Trị Học tại Harvard University. Cuốn sách mới nhất của ông với tựa đề “The Origins of Political Order: From Prehuman Times to the French Revolution,” sẽ được phát hành trong tháng 4, 2011.
Tuy nhiên GS Fukuyama được biết đến nhiều nhất qua cuốn sách nổi tiếng “The End of History and the Last Man”, xuất bản vào năm 1992. Trong sách này ông lập luận rằng sự tiến bộ của lịch sử nhân loại qua những cuộc tranh chấp về ư thức hệ hầu như kết thúc và thế giới an vị với một nền dân chủ cởi mở sau khi Chiến Tranh Lạnh chấm dứt và sự xụp đổ của Bức Tường Bá Linh vào năm 1989. GS Fukuyama tiên đoán sự toàn thắng huy hoàng cuối cùng của chủ nghĩa tự do về cả hai phương diện chính trị và kinh tế.
oo0oo
Một số thăm ḍ dư luận cho thấy rằng đa số dân Trung Quốc cảm thấy cuộc sống của họ tốt hơn về phương diện kinh tế trong những năm gần đây.
Trong thời gian ba tháng ngắn ngủi vừa qua, những cuộc nổi dậy của dân chúng đă lật đổ chế độ tại Tunisia, Ai Cập, đang gây ra cuộc nội chiến tại Libya, và rối loạn tại những nơi khác ở Trung Đông. Những cuộc nổi dậy này cũng tạo ra một thắc mắc trong đầu nhiều người: Liệu làn sóng dân chủ mới này sẽ là mối đe dọa cho tất cả những chế độ độc tài? Đặc biệt là Trung Quốc , một cường quốc đang vươn lên, có thể bị những sức mạnh này tấn công hay không?
Chính quyền Cộng Sản Bắc Kinh rơ ràng lo ngại. Họ đă giới hạn việc phổ biến tin tức về những cuộc nổi dậy và đă chấn áp những người vận động dân chủ và những phóng viên ngoại quốc để ngăn chặn ngay từ đầu những lời kêu gọi trên Internet về một cuộc “Cách Mạng Hoa Nhài” tại Trung Quốc. Một bài b́nh luận mới đây trên tờ nhật báo Bắc Kinh, một cơ quan ngôn luận của ban lănh đạo Đảng Cộng Sản thành phố, tuyên bố rằng đa số những người dân ở Trung Đông không thích những cuộc biểu t́nh chống đối tại nước của họ. Đây là những rối loạn tự lừa bịp do một thiểu số điều khiển. Về phần Chủ Tịch Hồ Cẩm Đào, ông kêu gọi tăng cường cái được gán cho cái tên “Trường Hỏa Thành” (Great Firewall). Đây là một bộ máy kiểm duyệt và theo rơi phức tạp mà chế độ sử dụng để kiếm soát việc tiếp cận Internet.
Không giống trường hợp ở Trung Đông, giai cấp trung lưu của Trung Quốc đă hưởng phúc lợi từ sự phát triển kinh tế mạnh mẽ và chánh sách tạo việc làm cho những người có học.
Không có một nhà xă hội học hay phân tách t́nh báo nào đă tiên đoán được thời điểm chính xác hoặc sự lan rộng của cuộc nổi dậy của người dân Ả Rập – thực tế là cuộc nổi dậy này đă khởi sự tại Tunisia và được châm ng̣i bởi một vụ tự thiêu của một người bán rau và những cuộc biểu t́nh đă buộc quân đội Ai Cập bỏ rơi ông Hosni Mubarak. Những xă hội Á Rập xem ra ổn định một cách thản nhiên trong hơn một thế hệ vừa qua. Tại sao những xă hội này lại bùng nổ vào năm 2011 là một điều chỉ có thể hiểu được bằng cách nh́n vào quá khứ, hi vọng như thế.
H́nh (AFP): Trung Quốc sẽ chứng kiến một cuộc nổi dậy của giới trẻ và giai cấp trung lưu trong tương lai.
Nhưng điều này không có nghĩa là chúng ta không thể nghĩ đến những cuộc cách mạng xă hội theo một phương cách quy mô. Ngay cả những sự việc bất ngờ phải xẩy ra trong một môi trường nào đó. Một điểm nữa là t́nh trạng của Trung Quốc và Trung Đông khác biệt tận gốc. Hầu hết những bằng chứng cho thấy rằng Trung Quốc khá an toàn đối với làn sóng dân chủ đang lan tràn trên những phần đất khác của thế giới – ít nhất trong giai đoạn hiện tại.
Có lẽ nhà tư tưởng thích hợp nhất có thể giúp chúng ta hiểu t́nh trạng ở Trung Đông hiện nay và Trung Quốc trong tương lai là ông Samuel Huntington – không phải Huntington của cuốn sách “The Clash of Civilizations,” (Sư Xung Khắc Của Những Nền Văn Minh) theo đó ông lư luận rằng có sự xung khắc căn bản giữa Hồi Giáo và dân chủ, nhưng là Huntington của cuốn sách “Political Order in Changing Societies” (Trật Tự Chính Tri Trong Những Xă Hội Thay Đổi), xuất bản vào năm 1968, theo đó ông đưa ra một lư thuyết về phát triển mất thăng bằng (the theory of the development gap).
Những cuộc biểu t́nh chống chính quyền đă lật đổ hai ông tổng thống tại Tunisia và Ai Cập và phát động cuộc nội chiến tại Libya.
Quan sát những sự bất ổn chính trị mạnh mẽ tại những nước đang phát triển trong hai thập niên 1950s và 1960s, ông Huntington nhận thấy rằng những sự phát triển kinh tế và xă hội thường đưa đến những cuộc đảo chánh, cách mạng và quân đội nắm chính quyền. Ông giải thích bằng sự khác biệt giữa những người mới được huy động, có học, và được tăng cường khả năng về mặt kinh tế và hệ thống chính trị hiện hữu - nghĩa là giữa hi vọng được tham gia vào chính trị và một cơ chế chỉ cho phép họ có chút ít tiếng nói hoặc không có tiếng nói ǵ cả. Ông Huntington nhận thấy rằng những cuộc tấn công vào chính quyền hiện hữu rất ít khi được lănh đạo bởi những người nghèo nhất của giai cấp nghèo trong xă hội, mà do giai cấp trung lưu bất măn v́ thiếu những cơ hội chính trị và kinh tế.
Những nhận định này có thể áp dụng vào trường hợp Tunisia và Ai Cập. Cả hai quốc gia này đă đạt được nhiều tiến bộ về xă hội trong vài thập niên gần đây. Chỉ số phát triển con người của Liên Hiệp Quốc (một cách đo lường hỗn hợp bao gồm sức khỏe, giáo dục, và lợi tức) tăng 28% tại Ai Cập và 30% ở Tunisia từ 1990 đến 2010. Số người đi học gia tăng đáng kể. Đặc biệt, Tunisia đă có nhiều sinh viên tốt nghiệp đại học. Thật vậy, những cuộc biểu t́nh ở Tunisia và Ai Cập do những người thuộc giai cấp trung lưu, trẻ, có học và hiểu biết kỹ thuật. Họ muốn bầy tỏ với bất cứ ai có thể lắng nghe nỗi thất vọng của họ đối với những xă hội trong đó họ không được phép bầy tỏ quan điểm của ḿnh, không thể quy trách nhiệm vào những người lănh đạo về sự tham nhũng và bất tài, hoặc không thể kiếm được việc làm mà không cần có sự quen biết.
Ông Huntington nhấn mạnh đến sức mạnh gây bất ổn của những lớp người mới trong xă hội. Họ đ̣i hỏi quyền tham dự vào chính trị. Dân chúng trước đây được huy động bởi báo chí và đài phát thanh; Ngày nay họ được kích động bởi điện thoại di động, Facebook, và Twitter. Những phương tiện này cho phép người dân được chia sẻ những nỗi bất b́nh về chế độ hiện hữu và học hỏi về những triển vọng trong một thế giới rộng lớn hơn. Sự thay đổi này trong vùng Trung Đông nhanh chóng một cách lạ thường và đă đánh đổ những chân lư cổ lỗ về tính chất thụ động của văn hóa Ả Rập và sự đối kháng của Hồi giáo đối với việc hiện đại hóa.
Những sự thay đổi phi thường này có gợi ư cho chúng ta về một khả năng bất ổn tại Trung Quốc trong tương lai không?
Một sự thật chắc chắn là sự bất măn xă hội, giống như miếng bùi nhùi để nhóm lửa, cũng hiện hữu ở Trung Quốc như ở Trung Đông. Ng̣i thuốc nổ của cuộc nổi dậy tại Tunisia là việc tự thiêu của Mohamed Bouazizi xẩy ra sau khi chiếc xe rau của anh bị tịch thu liên tục bởi nhân viên công lực và anh bị cảnh sát bạt tai và sỉ nhục khi anh đến để khiếu nại. Tất cả những chế độ không phải là pháp quyền (rule of law), trị dân bằng luật (rule by law), hoặc không chịu trách nhiệm trước công chúng, đều bị sự thật kể trên săn đuổi. Chánh quyền thường xuyên coi thường người dân b́nh thường và chà đạp lên quyền của người dân. Không có một văn hóa nào lại không chống đối những hành vi như vậy.
Đây là một vấn đề rất lớn ở khắp mọi nơi tại Trung Quốc. Một báo cáo của Đại Học Jiao Tong cho thấy rằng trong năm 2010 có 72 việc xáo trộn xă hội “lớn” xẩy ra ở Trung Quốc, tăng 30% so với năm trước. Theo phần lớn những quan sát viên ngoại quốc, báo cáo này đă giảm con số thật sự xuống có thể vài mức độ. Những sự xáo trộn như thế khó mà đếm bởi v́ chúng xẩy ra ở nông thôn và vấn đề báo cáo bị kiểm soát chặt chẽ bởi những giới chức có thẩm quyền Trung Quốc.
Trường hợp điển h́nh và trắng trợn vi phạm đến dân quyền nhất ở Trung Quốc đương thời là việc chánh quyền địa phương toa rập với những công ty phát triển địa ốc chiếm đoạt dất của nông dân hoặc công nhân nghèo để thực hiện những dự án hoành tráng mới hoặc là một công ty phế thải những chất nhiễm độc vào hệ thống cung cấp nước của thành phố nhưng không bị trừng phạt v́ nối kết với quyền lợi cá nhân của giới chức lănh đạo phân bộ đảng ở địa phương. Mặc dù nạn tham nhũng tại Trung Quốc chưa tới mức độ ăn cướp như ở một vài nước ở Phi châu hoặc Trung Đông, nhưng nó lan rộng ra khắp nơi. Dân chúng nh́n thấy và bất b́nh với nếp sống ưu đăi của lớp người quyền cao chức trọng và con cháu của họ. Cuốn phim “Avatar” là một thành công lớn ở Trung Quốc một phần v́ nhiều người dân Trung Quốc cảm thấy ḿnh như những người bản xứ trong cuốn phim bị những đại công ty vô h́nh ăn cướp đất đai của họ.
Ngoài ra, Trung Quốc c̣n có vấn đề bất b́nh đẳng lớn lao và ngày càng gia tăng. Phần lớn những lợi ích từ sự phát triển phi thường dành cho những vùng ven biển và làm cho nông thôn tụt hậu khá xa. Chỉ số Gini của Trung Quốc – một tiêu chuẩn để đo lường sự cách biệt về lợi tức trong xă hội – đă tăng lên đến mức của Châu Mỹ Latin trong một thế hệ vừa qua. Để so sánh, Ai Cập và Tunisia có sự phân phối lợi tức tương đối cân bằng hơn nhiều.
Tuy nhiên theo ông Huntington, cách mạng không tạo bởi những người nghèo mà bởi giai cấp trung lưu đang lên nhưng khát vọng của họ bị chặn lại, và ở Trung Quốc có rất nhiều những người này. Tùy theo định nghĩa của quư vị, giai cấp trung lưu của Trung Quốc có nhiều hơn tất cả dân số của Hoa Kỳ. Giống như ở Ai Cập và Tunisia, giai cấp trung lưu ở Trung Quốc không có một cơ hội nào tham dự vào chính trị. Nhưng không giống như ở Ai Cập và Tunisia, giai cấp trung lưu ở Trung Quốc được hưởng lợi ích từ nền kinh tế đang tiến bộ một cách ngoạn mục và chính sách tạo việc làm của nhà nước nhắm hết sức đặc biệt vào giới trung lưu.
Ở một mức độ người ta có thể đo lường dư luận quần chúng Trung Quốc qua những cuộc thăm ḍ như Asia Barometer (Phong Vũ Biểu Á Châu), đa số rất lớn của dân Trung Quốc cảm thấy rằng đời sống kinh tế của họ khá hơn trong những năm vừa qua. Đa số dân Trung Quốc cũng tin rằng dân chủ là một chính thể tốt đẹp nhất, nhưng như một khúc ngoặt kỳ lạ, họ lại nghĩ rằng Trung Quốc đă là một nước dân chủ và họ bằng ḷng với t́nh trạng này. Điều này có nghĩa là sự chuyển tiếp sang một nền dân chủ thật sự cởi mở trong một thời hạn ngắn chỉ được ít người hỗ trợ.
Thật vậy, có một vài lư do để tin rằng giai cấp trung lưu ở Trung Quốc có thể lo ngại rằng một chế độ dân chủ đa đảng trong ngắn hạn sẽ cho phép những người đă từng bị bỏ rơi đạo đạt những đ̣i hỏi của họ về việc tái phân phối lợi tức. Những người Trung Quốc giầu có nhận thấy rằng chế độ dân chủ đă gây ra t́nh trạng chính trị phân cực gần đây ở Thái Lan.
Sự thật là chế độ toàn trị ở Trung Quốc tinh vi hơn ở Trung Đông rất nhiều. Mặc dù không có trách nhiệm ǵ đối với dân chúng qua những cuộc bầu cử, chính quyền Trung Quốc cẩn thận theo rơi những bất măn của dân chúng và thông thường phản ứng bằng cách dỗ dành thay v́ đàn áp. Thí dụ như Bắc Kinh thẳng thắn công nhận sự chênh lệch lợi tức ngày càng lớn và trong những năm vừa qua đă t́m cách làm giảm bớt vấn đề này bằng cách chuyển những đầu tư mới vào khu vực nội địa nghèo. Khi có những trường hợp tham nhũng hay lạm quyền hiển nhiên, như đồ ăn cho trẻ sơ sinh bị nhiễm chất melamine hay việc xây cất trường học tồi tệ bị phát hiện khi có động đất tại Sichuan, chánh quyền đă quy trách nhiệm một cách tàn bạo cho các viên chức địa phương – đôi khi bằng án tử h́nh.
Một đặc điểm đáng chú ư nữa của chính quyền Trung Quốc là việc tự buộc phải thay đổi cấp lănh đạo. Những lănh tụ Ả Rập như Zine al-Abidine Ben Ali của Tunisia, Hosni Mubarak của Ai Cập, và Đại Tá Moammar Gadhafi không bao giờ biết khi nào phải ra đi, lần lượt nắm giữ quyền trong 23, 30, và 41 năm. Kể từ sau Mao Trạch Đông, cấp lănh đạo Trung Quốc triệt để tôn trọng nhiệm kỳ khoảng 10 năm. Ông Hồ Cẩm Đào, Chủ Tịch Nhà Nước hiện nay, theo lịch tŕnh sẽ dời khỏi chức vụ vào năm 2012, khi đó ông sẽ được thay thế bởi Phó Chủ Tịch Tập Cận B́nh (Xi Jinping). Thay đổi cấp lănh đạo có nghĩa là có nhiều đổi mới về chính sách hơn, khác hẳn với những nước như Tunisia và Ai Cập, bị mắc kẹt trong chế độ tư bản bè phái trong nhiều thập niên.
Chính quyền Trung Quốc cũng rất khôn ngoan và tàn nhẫn trong cách đàn áp. Khi cảm thấy một mối đe dọa rơ rệt, ngay từ đầu những nhà cầm quyền không bao giờ để cho các cơ quan ngôn luận Tây phương loan tin. Facebook và Twitter bị cấm, và nội dung của những mạng Internet và những hệ thống thông tin xă hội bị gạn lọc bởi cả một đội quân kiểm duyệt. Dĩ nhiên có những chuyện xấu xa của chính quyền lọt ra ngoài rồi mới bị khám phá và loại bỏ bởi viên chức kiểm duyệt, nhưng tṛ chơi mèo ŕnh chuột này làm cho một hệ thống thông tin xă hội khó có thể thành h́nh.
Một điểm khác biệt quan trọng sau chót giữa Trung Quốc và Trung Đông liên quan đến bản chất của quân đội. Số phận của những chế độ độc tài phải đối phó với những cuộc chống đối của dân chúng sau cùng lệ thuộc vào sự cấu kết và trung thành của những cơ quan quân sự, cảnh sát và t́nh báo. Quân đội của Tunisia không ủng hộ ông Ben Ali từ lúc đầu; sau một thời gian tầm phào, quân đội Ai Cập quyết định không bắn vào những người biểu t́nh và đẩy ông Mubarak ra khỏi chức vụTổng Thống.
Tại Trung Quốc, Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân là một tổ chức lớn lao và ngày càng tự trị, với nhiều quyền lợi mạnh mẽ về kinh tế và do đó quân đội có thế đứng trong t́nh trạng hiện nay. Như trong cuộc nổi dậy ở Thiên An Môn vào năm 1989, quân đội có nhiều đơn vị trung thành ở khắp nơi trong nước, có thể được đem vào Bắc Kinh hoặc Thượng Hải, và những đơn vị này không ngần ngại bắn vào những người biểu t́nh. Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân cũng tự coi ḿnh như như người bảo vệ chủ nghĩa quốc gia Trung Quốc. Trong tập sách tường thuật lịch sử của thế kỷ 20, Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân đă tự đặt ḿnh vào trung tâm của những biến cố như đánh bại Nhật trong chiến tranh Thái B́nh Dương và sự lớn mạnh của Trung Quốc hiện đại. Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân rất khó có thể thay đổi vị trí để ủng hộ một cuộc nổi dậy dân chủ.
Kết quả sau cùng là Trung Quốc sẽ không lây bệnh truyền nhiễm của Trung Đông một ngày gần đây. Nhưng Trung Quốc có thể dễ dàng phải đối phó với những vấn đề trong tương lai. Trung Quốc chưa trải qua một cuộc khủng hoảng kinh tế lớn hoặc t́nh trạng kinh tế suy giảm kể từ khi có cuộc cải tổ vào năm 1978. Nếu quả bong bóng của khu vực tài sản ở Trung Quốc tan vỡ, hàng chục triệu người sẽ mất việc, tính cách chính thống của chính quyền dựa vào việc quản trị quản trị kinh tế sẽ bị suy giảm một cách nghiêm trọng.
Hơn nữa, kịch bản của ông Huntington về sự vươn lên của giai cấp trung lưu nhưng kỳ vọng của họ không được thỏa măn, vẫn có thể xẩy ra trọn vẹn. Mặc dầu có sự thiếu thốn nhân công với kỹ năng thấp tại Trung Quốc hiện nay, lớp người tốt nghiệp đại học lại dư thừa. Từ nay trở về sau mỗi năm Trung Quốc đào tạo bẩy triệu sinh viên tốt nghiệp đại học, so với chưa tới một triệu vào 1998, và nhiều người khó khăn kiếm được việc làm phù hợp với địa vị của ḿnh. Đối với một chế độ đang hiện đại hóa, vài triệu sinh viên tốt nghiệp đại học nhưng thất nghiệp nguy hiểm hơn hàng trăm triệu nông dân nghèo khổ.
H́nh (Life): Vài triệu sinh viên tốt nghiệp đại học nhưng thất nghiệp nguy hiểm hơn hàng trăm triệu nông dân nghèo khổ.
Những người dân Trung Quốc c̣n nói đến một vấn đề mà họ gọi là “hoàng đế tồi tệ”. Những thành tích lịch sử của Trung Quốc qua nhiều thế kỷ là việc sáng tạo ra một chánh quyền tập trung. Khi những nhà lănh đạo độc tài có khả năng và có trách nhiệm, sự việc có thể tiến triển tốt đẹp. Thật vậy, một tiến tŕnh quyết định như vậy thường là có hiệu quả hơn là trong một chế độ dân chủ. Nhưng không có sự bảo đảm rằng chế độ [độc tài] luôn luôn sản xuất ra những nhà lănh đạo tốt, và trong trường hợp không phải là chế độ pháp quyền (rule of law) và không có cách kiểm tra quyền hành pháp, không có cách nào để loại trừ vị hoàng đế tồi tệ cả. Vị hoàng đế tồi tệ cuối cùng, thường (nói một cách yên lặng) được công nhận là Mao Trạch Đông. Chúng ta không thể biết một tên bạo chúa hoặc kẻ tham nhũng biển thủ công quỹ là ai trong tương lai của Trung Quốc.
Sự thật là chúng ta rất muốn xây dựng một lư thuyết về những nguyên nhân của cuộc cách mạng xă hội, nhưng xă hội loài người rất là phức tạp và thay đổi nhanh chóng để có thể có được một lư thuyết hướng dẫn đơn giản và đáng tin cậy. Một số quan sát viên đă không tin vào sức mạnh của “đường phố Ả Rập” có thể đem lại thay đổi chính trị, căn cứ vào sự hiểu biết sâu sa của họ về Trung Đông, và mỗi năm họ đều đúng cả - cho đến 2011.
Điều khó nhất để tiên đoán đối với bất cứ một quan sát viên chính trị nào là yếu tố đạo đức. Tất cả những cuộc cách mạng xă hội đều được khích động bởi sự tức giận tột độ v́ sự súc phạm đến phẩm giá, một sự tức giận đôi khi được kết tinh bởi một biến cố đơn thuần hay một h́nh ảnh. Nó có thể huy động những cá nhân trước đây rời rạc và nối kết họ thành một cộng đồng. Chúng ta có thể trích dẫn những con số thống kê về giáo dục, việc làm, và t́m ṭi về lịch sử và văn hóa của một xă hội, tuy nhiên chúng ta hoàn toàn không thấy ư thức xă hội tiến hóa nhanh chóng qua hàng ngàn tin nhắn, đoạn phim video hoặc những cuộc chuyện tṛ đơn giản.
Đối với Trung Quốc, đạo đức chủ yếu không thể đo lường được là giai cấp trung lưu. Cho đến nay, giai cấp này xem ra bằng ḷng hi sinh tự do chính trị để đổi lấy lợi tức cao và sự ổn định. Nhưng ở một thời điểm nào đó, sự đổi chác này sẽ rất có thể thất bại; chế độ sẽ tự nhận thấy không thể đem lại thành quả mong muốn, hoặc sự súc phạm đến phẩm giá của người dân Trung Quốc quá lớn để có thể tha thứ. Chúng ta không nên có tham vọng rằng chúng ta có thể tiên đoán được thời điểm đảo lộn đó khi nào sẽ xẩy ra, nhưng, như ông Samuel Huntington đề nghị, ngày đó sẽ được qui định bởi lư lẽ của chính việc đổi mới.